<?xml version="1.0" encoding="utf-8" standalone="yes"?>
<rss version="2.0" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom">
	<channel>
		<title>Nguyễn Tuân on Thụy Khuê</title>
		<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/tac-gia/nguyentuan/</link>
		<description>Recent content in Nguyễn Tuân on Thụy Khuê</description>
		<generator>Hugo</generator>
		<language>vi</language>
		
		
		
		
			<lastBuildDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</lastBuildDate>
		
			<atom:link href="https://thuykhue.tail21018a.ts.net/tac-gia/nguyentuan/index.xml" rel="self" type="application/rss+xml" />
			<item>
				<title>Thụy Khuê Thi pháp Nguyễn Tuân</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/bai-viet/nguyentuan/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/bai-viet/nguyentuan/</guid>
				<description>&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;Nguyễn Tuân, sinh ngày 10-7-1910 taị phố Hàng Bạc, mất tại Hà Nội ngày 28-7-1987. Tiểu học ở Hà Nội, trung học Nam Định. 1927, về Hà Nội cưới cô Vũ Thị Tuệ, nhưng vẫn trọ học ở Nam Định. 1928 (năm thứ tư trường Thành Chung) vì tham gia bãi khoá, bị đuổi học; Nguyễn Tuân cùng các bạn chạy qua Lào, sang Thái, nhưng bị bắt, giam tại Thanh Hóa khoảng một năm. Ra tù (1931-1936), đi đi về về giữa Hà Nội-Thanh Hoá, làm nhiều nghề và bắt đầu viết văn làm báo. Viết cho các tờ &lt;em&gt;Đông Tây, An Nam tạp chí&lt;/em&gt; (của Tản Đà), T&lt;em&gt;iểu thuyết thứ bảy&lt;/em&gt;, v.v... Từ 1937, ở hẳn Hà Nội sống bằng ngòi bút. Đầu năm 38, đi Hương Cảng đóng vai phụ trong phim &lt;em&gt;Cánh đồng ma&lt;/em&gt; (phim nói tiếng Việt đầu tiên), trở về viết một loạt bút ký về chuyến đi này, sau gộp lại trong tập du ký &lt;strong&gt;Một chuyến đi&lt;/strong&gt; (Tân Dân, Hà Nội, 1941). 1939-1943, thời kỳ sáng tác mạnh nhất:1939, viết loạt truyện ngắn đăng trên &lt;em&gt;Tao Đàn&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;Tiểu thuyết thứ bảy&lt;/em&gt;, sau in trong&lt;strong&gt;Vang bóng một thời&lt;/strong&gt; (Tân Dân, 1940); loạt phóng sự về thuốc phiện trong &lt;strong&gt;Ngọn đèn dầu lạc&lt;/strong&gt; (Mai Lĩnh, 1939). 1940, viết tự truyện &lt;strong&gt;Thiếu quê hương&lt;/strong&gt; (Anh Hoa, 1943); truyện vừa &lt;strong&gt;Nhà bác Nguyễn&lt;/strong&gt;, sau gom lại cùng 6 truyện ngắn khác, thành tập tự truyện &lt;strong&gt;Nguyễn&lt;/strong&gt;, (Thời Đại, 1945). 1941, Nguyễn Tuân in tiếp phóng sự &lt;strong&gt;Tàn đèn dầu lạc&lt;/strong&gt; (Mai Lĩnh, 1941), tự truyện  &lt;strong&gt;Chiếc lư đồng mắt cua&lt;/strong&gt; (Hàn Thuyên, 1941) và &lt;strong&gt;Tùy bút I&lt;/strong&gt; (Cộng Lực, 1941). 1943, in &lt;strong&gt;Tùy Bút II&lt;/strong&gt; (Lượm lúa vàng, 1943) và &lt;strong&gt;Tóc chị Hoài&lt;/strong&gt;, (Lượm lúa vàng, 1943) tuy gọi là tùy bút, nhưng thật ra là một tiểu thuyết cách tân; đồng thời viết loạt truyện ngắn huyền hoặc mà ông gọi là &lt;em&gt;Yêu ngôn&lt;/em&gt;, đăng trên &lt;em&gt;Thanh Nghị&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;Trung bắc chủ nhật&lt;/em&gt; (Nguyễn Đăng Mạnh sưu tập và cho xuất bản năm 1999). Từ 1944, trừ tùy bút &lt;strong&gt;Võng ngô đồng&lt;/strong&gt;, Nguyễn Tuân viết ít hẳn đi...1945, Cách Mạng tháng Tám bùng nổ, ban đầu ông không tham dự, nhưng viết bài &lt;strong&gt;Vô đề&lt;/strong&gt; sau đổi thành &lt;strong&gt;Lột xác&lt;/strong&gt; ghi lại những trăn trở, xâu xé của nhà văn trước quyết định phải đổi hướng.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
	</channel>
</rss>
