Chương 26
Sứ bộ Roberts, 1803-1804
Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long
Các sứ bộ Anh Pháp đến Việt Nam
Thế kỷ XVII, người Âu đã đến buôn bán ở Phố Hiến (Hưng Yên) ngoài Bắc, và Hội An là một hải cảng sầm uất, ở miền Trung; các chúa Trịnh Nguyễn cho phép người Bồ, Hoà Lan... mở thương điếm tại Phố Hiến, Hội An, tương đối dễ dàng. Nhưng từ khi Gia Long lên ngôi, Anh và Pháp nhiều lần đến xin thông thương, Gia Long và Minh Mạng đều dứt khoát từ chối. Tại sao? Chúng ta cần tìm hiểu chính sách này.
Thời Võ Vương Nguyễn Phước Khoát (1738-1765), Pháp gửi Pierre Poivre đến Đàng Trong, được chúa tiếp đãi tử tế, cho phép mở thương điếm ở Hội An; Joinville viết:
"Năm 1748, Bộ trưởng Hải quân Maurepas và công ty Pháp-Ấn, giao cho thương gia Pierre Poivre một nhiệm vụ chính trị và kinh tế ở Nam Hà và Bác Hà. Poivre tìm được lối vào và xâm nhập cửa biển Đà Nẵng, ngạc nhiên trước vẻ đẹp của vịnh này, có núi rừng bao quanh, ông cho biết có rất đông người Hoa ở Hội An, gần như độc quyền buôn bán.
Poivre được chúa Võ Vương tiếp và đạt được một thoả thuận cho phép người Pháp đến buôn bán trong xứ và tự do mở một thương điếm ở Hội An. Nhưng công ty Pháp-Ấn về sau lụn bại và đóng cửa khiến giao ước của Poivre không thực hiện được"1.
Đấy là lần cuối cùng chúa Nguyễn cho phép người Âu đến mở thương điếm. Sau đó, cục diện chính trị quốc gia và quốc tế thay đổi, nước ta lâm vào cuộc nội chiến Nguyễn Ánh-Tây Sơn và Châu Âu tìm mọi cách chiếm hữu thuộc điạ, xâm lấn dần Á Châu.
Để hiểu rõ chính sách ngoại giao của Gia Long và Minh Mạng trong thời kỳ này, chúng ta cần biết rõ, những diễn biến đã xẩy ra, khi các phái đoàn Anh, Pháp, đến Việt Nam, dưới thời Gia Long và đầu triều Minh Mạng.
Sứ bộ Roberts, 1803-1804
Trong thời kỳ chiến tranh Nguyễn Ánh-Tây Sơn, nước Anh bán khí giới cho Tây Sơn, nhưng đến năm 1801, thấy Nguyễn Ánh sắp thắng trận, Anh xoay chiều, phái người đến xin thông thương. Thực Lục, tháng 5-6 /1801 ghi:
"Nước Hồng Mao sai người đem thư đến dâng phương vật mà xin miễn thuế cảng cho thuyền buôn. Vua hạ lệnh cho lưu trấn Gia Định [Nguyễn Văn Nhơn] viết thư trả lời: đánh thuế theo như thể lệ thuyền buôn Quảng Đông*"*2.
Như vậy, ngay từ 1801, Nguyễn Vương đã trả lời rất rõ ràng: tất cả mọi nước Âu, Á, đến Việt Nam buôn bán đều phải đóng thuế nhập khẩu như nhau, triều đình không miễn thuế cho nước nào.
Hai năm sau, khi Gia Long đã lên ngôi, tháng 7-8/1803, Công ty Anh-Ấn gửi Roberts làm đại diện đến dâng lễ vật và xin yết kiến. Thực Lục, tháng 7-8/1803 ghi:
"Hồng Mao sai sứ đến hiến phương vật, dâng biểu xin lập phố buôn ở Trà Sơn, dinh Quảng Nam. Vua nói rằng: "Hải cương là nơi quan yếu, sao lại cho người ngoài được!" Không cho. Sai trả vật lại mà bảo về"3.
Lá thư đầu tiên của Roberts viết lúc mới đến Đà Nẵng gửi vua, đề nghị "xin lập phố buôn ở Trà Sơn, dinh Quảng Nam". Trà Sơn là Đà Nẵng, vua không cho, Thực Lục chỉ viết vắn tắt như vậy. Louvet viết rõ hơn: "Trong những thư từ, Công Ty Anh-Ấn đòi lập một cơ sở ở Cù Lao Chàm, phiá nam Đà Nẵng"4. Còn Kergariou, viết theo lời Vannier kể lại: "Nhà vua rất sợ người Anh, lo ngại họ đến chiếm hải cảng Đà Nẵng mà họ đã tìm cách mua lại"5. Những thông tin này đều đúng với lời vua Gia Long được ghi trong Thực Lục: "Hải cương là nơi quan yếu, sao lại cho người ngoài được! Không cho."
Từ 1793, khi phái đoàn Macartney, sứ thần Anh đầu tiên đến Trung Quốc, ngừng lại ở Đà Nẵng từ 14/5 đến 16/6/1793, dưới triều Cảnh Thịnh, Barrow cho biết họ đã vẽ bản đồ vịnh Đà Nẵng và ông mô tả vùng Đà Nẵng, Cù Lao Chàm là nơi có vị thế chiến lược quan trọng để đặt "thương điếm" làm địa điểm giám sát vùng biển Đông (Xem Chương 4, Barrow).
Roberts đến Đà Nẵng khi vua Gia Long đang sửa soạn ra Bắc tháng 9/1803 nhận lễ tấn phong của nhà Thanh. Tuy bị vua từ chối đề nghị, nhưng Roberts vẫn kiên trì ở lại. Trước khi đi, vua giao việc này cho Công Đồng, mà Phạm Văn Nhơn là phụ chính thứ nhất, quản lý. Công Đồng quyết định sai Vannier và Chaigneau ra Đà Nẵng tiếp Roberts và nói cho phái đoàn Anh biết luật lệ của triều đình. (Xem Chương 25, Chaigneau).
Chaigneau, Vannier được sai đi đón tầu Anh, nhưng Pháp và Anh là hai nước cừu địch. Pháp muốn ngăn Anh giao thương với Việt Nam, và phía Anh cũng muốn dùng mọi cách ngăn cản Pháp vào Việt Nam. Roberts nhất quyết đợi vua từ Thăng Long trở về, để xin yết kiến. Ngày 19/3/1804, vua về đến Huế. Gia Long vẫn không tiếp, không thuận nhượng bất cứ mảnh đất nào cho nước ngoài để mở thương điếm, nhất là đối với nước Anh; ngoài việc họ đã chiếm Ấn Độ, chắc vua cũng không quên việc họ đã bắt tầu Armide của vua năm 1798. (Xem Chương 20, Chính sách đối ngoại của Gia Long).
Từ tháng 3/1804 đến tháng 7/1804, Roberts vẫn một mực dâng thư xin triều kiến nhưng vẫn bị từ chối. Thực Lục, tháng 7-8/1804, ghi:
"Nước Hồng Mao sai sứ đến dâng phương vật, dâng biểu xin thông thương. Lại xin cho người nước ấy ở lại Đà Nẵng, đi lại buôn bán. Vua nói: "Tiên vương kinh dinh việc nước, không để người Hạ lẫn với người Di, đó thực là cái ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ. Người Hồng Mao gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho ở lại, ban cho ưu hậu mà khiến về, khước từ những phương vật họ hiến". Rồi sau bọn Hội Thương Trọng (tên quan Hồng Mao) [chắc chỉ Roberts] hai ba lần dâng thư yêu cầu. Cuối cùng vua cũng không cho"6.
"Cuối cùng" tức là hơn một năm sau, ngày 14/8/1804, tầu Anh mới nhổ neo, Roberts để lại lá thư phản đối sau đây:
Hải cảng Touran ngày 14/8/1804,
Tâu Bệ Hạ,
Tôi vô cùng cám ơn các quan chức đã được lệnh Bệ Hạ chu cấp lương thực cho chúng tôi trong suốt thời gian chúng tôi ở đây. Tôi rất tiếc là Bệ Hạ đã không lấy quyết định giao ước hữu nghị và thương mại với Công ty Anh-Ấn Khả kính, điều này rõ ràng đem đến sự mở mang và thịnh vượng cho quý quốc. Cách Bệ Hạ đối xử với Công ty Anh-Ấn Khả kính, theo tôi, không thân thiện như Công ty Khả kính đối xử với Bệ Hạ. Khi tới Touron [Đà Nẵng] tôi đã bị giữ lại gần ba tuần, lấy cớ là phải giải thích chủ đích của phái đoàn, điều mà tôi đã làm trong những lá thư viết từ Touron, tháng 12, năm ngoái 7. Còn về quà cáp biếu Bệ Hạ, để chứng tỏ lòng thân thiện của Công ty Khả kính và của Ngài Toàn Quyền Cao Quý của chính phủ Anh ở Ấn Độ, thì đã được nhận một cách không mấy hữu hảo, tôi biết việc này, qua bài phúc trình của Công ty Khả kính gửi cho các cơ quan hữu trách ở Ấn Độ.
Sự nhất quyết từ chối những đề nghị và đòi hỏi mà tôi đã hân hạnh trình lên Bệ Hạ, [tức là xin hoặc mua Đà Nẵng hay Cù Lao Chàm để mở thương điếm] đáng lý phải được xét xử một cách thân thiện, bởi vì có lợi cho quý quốc, là rất đáng giận. Để trả lời những khát vọng ôn hoà của Công ty Khả kính, Bệ Hạ chỉ cho phép các tầu Anh đến các hải cảng của Bệ Hạ trong cùng điều kiện với các tầu ngoại quốc khác, là một sự xúc phạm*. Cái phép này, luôn luôn có, không có giá trị gì hết, và không thể coi là biểu hiện ước muốn trao đổi với Công ty, mà ngược lại, nó cho thấy Bệ Hạ đã lạnh lùng bác bỏ các đề nghị mở cửa của Công ty. Lối hành xử hách dịch, kiêu kỳ, xấc xược của Bệ Hạ trong mọi trường hợp, là cách trả lời tệ hại cho những đề nghị tiện lợi của Công ty Khả kính,* Bệ Hạ đã không cho phép một buổi tiếp kiến riêng nào.
Đáng lý ra, Bệ Hạ phải bằng lòng với những ý định thân thiện và lợi ích rút ra từ việc giao thiệp với Công ty. Sự quyết tâm rõ ràng tránh tất cả mọi giao hảo với nước Anh của Bệ Hạ, theo ý tôi, là không tương hợp với việc Bệ Hạ nhận những hàng hóa và những đơn đặt hàng.
Tôi thấy cách xử sự của Bệ Hạ vụng về, thiếu khôn ngoan và không vững. Nếu ngài muốn thương lượng hữu nghị với dân tộc Anh, chúng tôi vẫn sẵn sàng thiết lập sự giao hảo có lợi cho hai nước. Chước duy nhất là [Bệ Hạ] gửi một đại biểu tới Ngài Toàn Quyền Cao Quý ở đồn William. Điều này vẫn còn có thể làm được.
Như tôi không thể tin rằng Bệ Hạ từ chối không cho tầu Anh đến các hải cảng của bệ hạ như những tầu khác, mà có thể, Bệ Hạ sợ chúng tôi sẽ hành xử chống lại luật lệ quý quốc, tôi xin báo cho Bệ Hạ biết rằng, bất cứ sự phạm pháp nào của người Anh cũng bị trị tội, nếu có chứng cớ hợp thức, và sẽ báo cho chính phủ Nam Hà biết.
Tôi còn phải báo cho Bệ hạ biết nếu ngài cho phép kẻ thù của nước Anh [chỉ Pháp] mở một thương điếm hay dễ dàng buôn bán bất cứ thứ gì, thì Bệ Hạ nên biết rằng, sự tiếp xúc với chúng sẽ chuốc lấy hậu quả là mối hận thù của chính phủ Anh*.*
Tôi không mong cơ sự sẽ đến nỗi như vậy, mà mong Bệ Hạ sống lâu trong hoà bình và thoả ý.
Tôi hân hạnh, vv... "8
Lá thư hỗn xược và đe dọa của Roberts, cho thấy rõ những điểm sau đây:
1- Là đại diện Công Ty Anh-Ấn, nhưng Roberts xử sự như y là đại diện nước Anh, chứng tỏ Công Ty Anh-Ấn chính là não bộ của chính sách thuộc địa Anh ở ngoài nước. Điều này đã xẩy ra năm 1702, khi Allen Cacthpoole, chủ tịch Công ty Anh Án ở Trung Hoa đem tám tầu đến chiếm Côn Lôn, dựng thành luỹ, bị Trương Phước Phan dùng kế, tiêu diệt. (Xem chương 16, Chúa Nguyễn đuổi quân Hoà Lan và quân Anh).
2- Câu: "Bệ Hạ chỉ cho phép các tầu Anh đến các hải cảng của Bệ Hạ trong cùng điều kiện với các tầu ngoại quốc khác, là một sự xúc phạm", chứng tỏ sự trịch thượng và vô lễ của chính quyền Anh đối với chính quyền Việt Nam.
3- Câu: "Nếu ngài muốn thương lượng hữu nghị với dân tộc Anh, chúng tôi vẫn sẵn sàng thiết lập sự giao hảo có lợi cho hai nước", chứng tỏ một lần nữa, công ty Anh-Ấn là chính quyền Anh.
4- Câu: "Sự quyết tâm rõ ràng tránh tất cả mọi giao hảo với nước Anh của Bệ Hạ, theo ý tôi, là không tương hợp với việc Bệ Hạ nhận những hàng hóa và những đơn đặt hàng". Ý nói đến việc Nguyễn Vương vẫn nhận hàng của công ty Abbott-Maitland, mà Barisy là đại diện. Nói vậy là nhận quàng bởi vì Abbott-Maitland là công ty tư, buôn bán với Nguyễn Vương từ năm 1793, cùng điều kiện với những nhà buôn của các nước châu Âu khác, như Bồ, Đan Mạch... Abbott-Maitland không hề xin đất để lập thương điếm. (Xem chương 20, Chính sách đối ngoại của Gia Long).
5- Những lời lẽ hỗn xược, lưu manh, trong lá thư này đã khiến Gia Long nổi giận và sử gia triều Nguyễn đã phản ánh lại trong Thực Lục: "Người Hồng Mao gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho ở lại."
Vì vậy mà Gia Long càng thêm cứng rắn đối với việc Anh, Pháp xin "thông thương".
Dư luận thời ấy về việc sứ bộ Roberts
Giám mục La Bartette trong thư ngày 17/9/1803 gửi cho M. Chaumont ở Paris, nói về cái chết của Barisy, có câu: "Tầu Anh còn ở đây (tầu của hãng buôn Anh ở Madras) đang tính toán sổ sách với nhà vua. M. Barisy, là đại diện thương mại của tầu Anh tại đây, đã mất một năm rồi, có vài lộn xộn trong sổ sách. Tôi tin rằng cũng sẽ ổn thoả, không có gì trở ngại"9. Vị giám mục lầm tầu của Roberts thuộc công ty Anh-Ấn với tầu của công ty Abbott-Maitland. Hoặc có thể, công ty Anh-Ấn có quyền trên công ty Abbott-Maitland chăng?
Sainte-Croix viết đại ý như sau: Chính quyền Anh ở Bengale được tin vua nước Nam vừa toàn thắng, vội gửi sứ giả sang để ký kết buôn bán có lợi cho công ty của họ và tống cổ nước Pháp ra ngoài. Họ xin lấy một hải cảng để đậu tầu và mở thương điếm. Roberts giám đốc công ty Anh ở Quảng Đông được gửi sang nước Nam, mang theo nhiều quà cáp đến Quin-Hône [Qui Nhơn]. Trong khi đợi vua tiếp, thì ông ta đem quà cáp đút lót các quan và rêu rao nếu buôn bán với Anh thì sẽ có lợi. Roberts không muốn các thừa sai Pháp ở trong triều cản trở, đã khôn khéo bảo họ rằng chính phủ Anh đã giúp đỡ các thừa sai Pháp tỵ nạn sang Anh sau cách mạng 1789, vì vậy, trong vụ này, các thừa sai Pháp ủng hộ Anh, kẻ thù của Pháp.
Các quan đã dàn xếp cho vua tiếp Roberts lần đầu, đã nhận một phần quà cáp mà ông ta tốn kém không biết bao nhiêu mà kể. Việc sắp thành, thì lúc đó các ông Vannier và Chaigneau, đang làm quan tại triều, đến. Vua không biết rõ sức mạnh của nước Anh, chỉ nghe phong thanh có người Âu đến xin thông thương... Vua hỏi Chaigneau, ông ấy phải quỳ gối hai giờ đồng hồ theo lối Annam, thì thầm vào tai vua, để các quan khỏi nghe thấy. Sau vua quay ra hỏi ông Roberts lý do tại sao lại muốn buôn bán với nước Nam, ông này trình bầy một cách giả dối khiến vua đổi hẳn thái độ, hỏi thẳng: vậy cũng như đã đến chiếm Ấn Độ chứ gì? Sau đó vua trả lại quà cáp và hạ lệnh cho nước Anh được giao thông giống như điều kiện đã cho các nước khác.10
Sự "tường thuật" của Sainte-Croix dĩ nhiên là có phóng đại, biạ đặt: Roberts không "hối lộ" được các quan và cũng không nhờ các "thừa sai" Pháp ở trong triều ủng hộ để được vua tiếp lần nào cả. Nhưng sự ganh tỵ, kèn cựa, giữa Anh và Pháp là đúng, kể cả việc giáo sĩ Pháp theo phe Anh vì căm thù chính phủ cách mạng Pháp đã giết tu sĩ và đuổi giáo hội ra khỏi chính quyền Pháp.
Montyon nói đến sự thất bại của phái đoàn Hastings năm 1778, sang vào lúc loạn lạc, nên không thành, và về việc phái đoàn Anh đến năm 1804, vua không tiếp:
"Năm 1778, nước Anh sau khi làm chủ được một phần đất Ấn, đã tìm cách buôn bán với nước Nam, nhưng không thành (...) Từ khi Gia Long lên ngôi, Công Ty Anh-Ấn lại muốn xây dựng một dự trình xin cho các tầu buôn Anh được hưởng điều kiện thương mại có lợi, đã bí mật gửi người đến điều đình; nhưng hoặc vì do mưu mô của vài sĩ quan Pháp được hoàng đế tin cậy [chỉ Vannier, Chaigneau], hoặc do sự nghi ngại sức mạnh của Anh, quà đem đến để thương thuyết không được vua nhận, vì thế người của Công Ty Anh-Ấn cũng không đề nghị được gì."11
Barrow thì chắc chắn rằng Gia Long sẵn sàng giao thương với nước Anh, nhưng vì trong phái đoàn Anh không ai biết một chữ tiếng Việt, mà bên cạnh vua còn có những người Pháp, tha hồ dèm pha, nói xấu... Kết quả hiển nhiên là phải như vậy: trong triều chỉ còn thông ngôn là thừa sai Pháp, làm sao biết được, họ chỉ dịch cho vua những gì mà họ muốn, chúng ta thừa biết họ đối với Anh như thế nào!12
Đọc những lập luận trên đây (dù các tác giả có chỗ viết sai, viết bừa) không những chúng ta biết thêm được bối cảnh của câu chuyện, mà còn thấy rõ sự cạnh tranh và ganh tỵ triệt để giữa Pháp và Anh trong việc "buôn bán" này. Kể từ ngày 25/3/1802, Anh Pháp đã ký hiệp ước hoà bình Amiens, nhưng không vì vậy mà "mối thù "giữa hai nước vơi đi. Sự tranh chấp từng miếng đất làm thuộc địa, giữa hai nước vẫn dữ dội, và Roberts là một vụ điển hình.
Vua Gia Long chuẩn bị chiến tranh với Anh
Kergariou, thuyền trưởng tầu Cybèle của Pháp, trong nhật ký hành trình (sẽ nói ở dưới), kể việc vua Gia Long phòng bị chiến tranh với Anh:
"... Ông [Gia Long] rất sợ người Anh, lo ngại họ đến chiếm hải cảng Đà Nẵng mà họ đã tìm cách mua lại [mà không được]. Năm 1812, một chiến hạm Anh xuất hiện ở Đà Nẵng và ở lại 15 ngày. Viên thuyền trưởng đến để đòi số tiền 300.000 đồng còn lại của hãng buôn Abbott và Maitland ở Madras. Tất cả sổ sách này đã thanh toán xong, [vua đã trả] cho viên thuyền trưởng một chiến hạm khác đến đây từ năm 1807. Nhà vua thấy sự đòi hỏi vô lý này, không trả, và gửi bản sao sổ sách xong xuôi cho phó vương Bengale và những người cầm đầu khác ở Ấn Độ. Viên thuyền trưởng Anh nhổ neo đi và hăm dọa rằng, sẽ trở lại đòi nợ với đoàn chiến hạm phủ kín mặt biển và sẽ đổ bộ 20.000 người. Từ đó, nhà vua áp dụng mọi biện pháp phòng vệ cần thiết*, cho xây những pháo đài ở Đà Nẵng, người ta cảm thấy rằng, đối với ông, thà mất ngai vàng còn hơn chịu thần phục người Anh.*
Năm 1813, họ đã đợi người Anh, nhưng người Anh không tới và trong hơn hai năm, cả nước đều ở vị trí phòng thủ"13.
Những lời trên đây, do Vannier thuật lại với Kergariou về tình hình Việt Nam, chắc là xác thực, vì ăn khớp với việc Thực Lục, tháng 7/1812 ghi:
"Tầu của người Hồng Mao là Ốc Luân đậu ở vụng Trà Sơn, dâng biểu nói năm trước nhà vua mua súng đạn của trưởng tầu là Áp Bột Miệt Lăng [Abbott-Mailland] giá bạc hãy còn thiếu, xin trả cho. Quản tầu vụ là Nguyễn Đức Xuyên đem việc tâu lên. Vua nói: "Người Di Địch chỉ biết có lợi, khó nói nhân nghiã được. Giá hàng mua năm trước còn ở sổ kia. Gần đây Kê Lê Mân đến xin thêm giá, ta cũng không thèm so đọ, đã cho đủ số rồi. Nay lại tham lam không chán, sở dục biết làm sao cho no được? Bèn sai Đức Xuyên làm thư nghiêm trách, và sao cả sổ mua hàng cho xem. Ốc Luân được thư xấu hổ và sợ, đi mất"14.
Sau đó, Kergariou viết thêm: "... ở nước Nam, có những nơi mà mạch mỏ bạc nổi cao sát mặt đất, những chỗ này được canh gác kỹ lắm, vua không muốn khai thác và cũng không cho ai khai thác. Lý do vì vua sợ sự giầu có này được bên ngoài biết đến và nếu khởi công khai mỏ, bọn người Anh sẽ kiếm cách xâm chiếm. Hoàng đế rất nghi ngờ lòng tham lam và gian trá của người Anh, người quả quyết chống lại đến cùng, kể cả việc phải phá huỷ, hay để bị phá những thành trì ở ven biển, rồi rút vào đợi quân địch ở chân núi và hẻm núi."15
Những điều khá bí mật này, không ghi trong Thực Lục, Vannier kể lại cho Kergariou, không biết vì ghét Anh, có thêm bớt gì chăng. Tuy nhiên Thực Lục, năm 1813, tuy không trực tiếp nói đến việc phòng thủ Anh, nhưng đã ghi lại các việc sau đây: vua sai đắp thành đất trấn Vĩnh Thanh (là một thành đài cực kỳ kiên cố ở miền Nam). Đắp đài Điện Hải và đồn An Hải ở bên trái và bên phải cửa biển Đà Nẵng (những thành đài này sẽ được Minh Mạng kiện toàn, Thiệu Trị xây thêm và đã gây trở lực lớn cho liên quân Pháp Y Pha Nho, khi họ đánh Đà Nẵng năm 1858). Đổi cửa Eo thành cửa Thuận An. Xây đài Trấn Hải. Tuyển binh từ Quảng Bình đến Gia Định. Vua thân chinh ra Thuận An xem đài Trấn Hải và ra Đà Nẵng xem đài Điện Hải. Cho dựng đài hoả hiệu ở núi Chu Mã và núi Quy Sơn. Đúc súng. Định 9 điều lệ nghiêm ngặt cho việc án thủ đài Trấn Hải, cũng là điều lệ chung cho việc phòng thủ những nơi hiểm yếu. Điều số 8 như sau: "Trấn thủ Thuận An có tin báo về việc ngoài biển (về người Tây Dương) hoặc thấy hiệu lửa ở đài hoả hiệu Quy Sơn cửa biển Tư Dung, tức thì một mặt sắp quân phòng bị, một mặt phái người chạy tâu."16
Những điểm này chứng tỏ Gia Long đã đích thực chuẩn bị phòng thủ quân Tây Dương.
Tầu Cybèle đến Đà Nẵng năm 1817
Sau khi Bá Đa Lộc ký hiệp ước cầu viện ngày 28/11/1787 với de Montmorin tại Versailles (nhưng Louis XVI không thực hiện), Pháp xẩy ra cuộc cách mạng 1789, Louis XVI lên đoạn đầu đài ngày 21/1/1793, trong gần 30 năm, nước Pháp rơi vào giai đoạn sóng gió loạn lạc, chiến tranh với nước Anh và Âu Châu, thay đổi chính thể, đến thời Vương Chính Trùng Hưng (Restauration), dòng Bourbon trở lại cầm quyền, Louis XVIII mới nghĩ đến việc trở lại Viễn Đông, và năm 1817 gửi chiến hạm Cybèle do A. de Kergariou điều khiển đến Việt Nam.
Achille de Kergariou sinh tại Quimper (Bretagne), ngày 1/5/1775. Mất tại Ploumoguer (Finistère) ngày 12/12/1820. Từ 1787 gia nhập hải quân, là sinh viên sĩ quan hạng 3. Đến 1792, trở thành sĩ quan, và 1814, được thăng thuyền trưởng chiến hạm Cybèle, tuần hành vùng Terre-Neuve (miền đông Canada) trước khi đến Việt Nam.
Tầu Cybèle khởi hành từ Brest, sau 106 ngày vượt biển không ngừng, đến Pondichéry ngày 1/7/1817, rồi ghé Malacca, Manille, Cavite, Macao, đảo Hải Nam và đến Đà Nẵng ngày 30/12/1817. Vì không đem quốc thư, nên Kergariou không được vua Gia Long tiếp, Kergariou rời Đà Nẵng ngày 22/1/1818, đi dọc theo bờ biển phiá Nam, đỗ lại ở Champello [Cù Lao Chàm], Vung-Chao [Vũng Chào, Phú Yên], đảo Tray [Hòn Tre, Nha Trang], Phanry [Phan Rí] và Cap St-Jacques [Vũng Tầu]. Sau đó đi Poulo-Condore [Côn Lôn] rồi trở lại Malacca ngày 11/2/1818. Ngày 19/10/1818, Cybèle trở về Brest, hoàn thành công tác 19 tháng. Tuy nhiệm vụ chính trị thất bại, nhưng Kergariou đã làm được việc sửa lại và bổ sung tập bản đồ bờ biển miền Nam do Dayot vẽ ngày trước.
Về việc Kergariou đến Đà Nẵng, Thực Lục, tháng 12/1817, ghi:
"Tầu của Phú Lãng Sa đậu ở Đà Nẵng, đưa thư cho Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] nói vua nước ấy lấy lại được nước, sai treo cờ ở thuyền đi đến các cửa biển để các nước láng giềng biết, xin dâng sản vật địa phương, đến Kinh chiêm yết. Vua lấy cớ không có quốc thư mà khước từ. Sai Dinh thần Quảng Nam [Trấn thủ Quảng Nam] khoản đãi hậu, rồi bảo đi. Lại sắc cho trấn thủ Đà Nẵng rằng nếu thuyền người Phú Lãng Sa có treo cờ bắn súng mừng 21 tiếng thì ở trên đài Điện Hải cũng bắn trả lời đúng số ấy. Từ sau có thuyền buôn nước ngoài vào cửa biển, bắn súng dẫu nhiều, trên đài chỉ bắn ba tiếng làm hiệu."17
Nhật ký hành trình của Kergariou
Kergariou để lại cuốn nhật ký hành trình, được giữ trong văn khố Bộ Hải Quân. Pierre de Joinvillle sưu tầm, chú thích, viết thành luận án tiến sĩ văn khoa, xuất bản năm1914, tại Paris với tựa đề La Mission de la Cybèle en Extrême-Orient 1817-1818, journal de voyage du capitaine A. de Kergariou (Sứ mệnh của tầu Cybèle ở Viễn Đông, nhật ký hành trình của đại uý A. de Kergariou). Nhờ cuốn sách này mà chúng ta có đầy đủ tài liệu vế chuyến đi của tầu Cybèle đến Việt Nam năm 1817-1818. Tác phẩm có hai điểm đáng chú ý:
1- Ghi lại các việc hàng ngày, với đầy đủ chi tiết, khiến ta có thể biết rõ mọi diễn biến trong thời gian tầu Cybèle đậu ở Đà Nẵng, từ 30/12/1817 đến 22/1/1818.
2- Trong phần Chứng từ (Pièces Justificatives), có in những thư trao đổi giữa Kergariou và Vannier, Chaigneau, và Quyết nghị của Công Đồng. Những văn bản gốc này, tự chúng đã nói lên sự thực. Vì vậy, chúng tôi dịch những lá thư trong phần Chứng từ để độc giả thấy rõ trình tự các sự việc đã xẩy ra.
Tới Đà Nẵng ngày 30/12/1817, Kergariou viết ngay lá thư đầu tiên gửi Chaigneau và Vannier, báo tin mình đã tới nơi, và nhờ hai người này giúp để xin gặp vua Gia Long:
Lá thư thứ nhất của Kergariou gửi Vannier và Chaigneau
"... Hoàng đế Louis XVIII, đấng cứu thế (Le Désiré), quốc vương Pháp và Navarre18 đã lên lại ngôi cao của tổ tiên, người lo lắng cho hạnh phúc của thần dân và đang hàn gắn những vết thương do từ quá lâu [nước Pháp] không có chính quyền. Người ra lệnh, lá cờ Pháp, cờ hoa huệ ngày xưa, đã quá lâu vắng bóng, phải trở lại trên biển cả. Khi nhìn đến những vùng đất xa xăm, con mắt Người chú ý đến Nam Hà, một đất nước giống như chúng ta, đã có những nỗi bất hạnh lớn, đã chịu những cuộc nổi loạn dị kỳ. Người đã thấy, cầm đầu đất nước này là một quốc vương chính thống, cũng giống như Người, đã, gặp phận rủi ro, nhưng cũng nhờ kiên gan mà đã thành công...
Tôi được hân hạnh đặc giao nhiệm vụ trên tầu Cybèle của vua, trở lại vùng biển Á Châu, phô trương chiến hạm của vua, phô trương lá cờ Pháp (và trong cuộc hành trình, tôi có nhiệm vụ chính thức bố cáo rằng Vua Louis XVIII, Cứu thế, đã khôi phục lại ngôi báu của tổ tiên, người đặc biệt dặn dò tôi ở lại bờ biển Nam Hà, cố gắng xin được yết kiến nhà vua với mục đích duy nhất là gửi lời khen tặng của vua Pháp và bảo đảm sự nể trọng và quý mến của Pháp hoàng đối với nhà vua, bằng cách chính thức thông báo cho nhà vua biết là hoàng đế đã tức vị, được củng cố bởi lòng nhân đức, cùng sự kính trọng và tin yêu của thần dân..." Sau đó Kergariou hỏi ý kiến Chaigneau và Vannier về việc quà cáp biếu Gia Long, nên tặng những thứ gì, và nhờ hai người này kiếm cho một người thông ngôn19.
Lá thư trên đây của Kergariou, viết về "sứ mệnh" của chuyến đi, lời lẽ huê dạng, được tóm tắt lại trong Thực Lục, chứng tỏ Kergariou không có một "nhiệm vụ" đích thực nào cả, hoặc vua Louis XVIII sai đi, nhưng không sửa soạn gì. Cũng nên nói thêm: Sở dĩ có lời "rao" này, vì trước đây Gia Long đã từng nói: chỉ giao thiệp lại với Pháp nếu dòng họ Bourbon trở lại ngai vàng. Sự phô trương này chỉ là mặt tiền. Mặt hậu, không nói ra, nhưng đã dặn Kergariou không được tự mình điều đình gì về hiệp ước 1787 (tức là hiệp ước cầu viện Versailles do Bá Đa Lộc ký, nhưng Pháp không thi hành, bấy giờ Pháp muốn "đòi" các đất đã hứa nhượng trong bản hiệp ước 1787, là Hội An và Côn Đảo). Đó là mặt hậu.
Tất nhiên dù chỉ nói "mặt tiền" ra thôi, thì cũng bị thất bại rồi: triều đình không có lệ tiếp một viên thuyền trưởng chỉ muốn đến "chào vua" mà không đem quốc thư, và Vannier không có thẩm quyền gì trên quyết định của triều đình.
Thư trả lời của Chaigneau và Vannier
Thưa ông,
Tối nay chúng tôi nhận được thư ông viết ngày 30/12 vừa qua ở Đà Nẵng. Chúng tôi đã báo tin ngay cho quan Thương Bạc [Nguyễn Đức Xuyên] ông ta nói rằng trước khi tâu vua, cần phải biết rõ mục đích nhiệm vụ của ông; vì vậy, chúng tôi vinh hạnh đợi lá thư ông sẽ viết để thông báo chi tiết những quà cáp gửi đến có phải của vua Pháp hay của ai khác, và nếu có thư nào của chính phủ Pháp gửi chính phủ Việt Nam. Trong khi chờ đợi, vị quan này sẽ gửi cho ông viên thông ngôn của ông ấy, bởi vì chúng tôi không có thông ngôn.
Chúng tôi ky vọng rằng...
J.B. Chaigneau, P.Vannier
Huế ngày 3/1/181820
Thư thứ hai của Kergariou gửi Chaigneau và Vannier
Thưa các ông,
Tôi vừa hân hạnh nhận được lá thư mà các ông đã gửi cho tôi qua người thông ngôn-đưa thư của ông Bộ trưởng Ngoại giao [Nguyễn Đức Xuyên]. Tôi hy vọng các ông đã nhận được thư thứ hai của tôi vì thư đầu chỉ có mấy dòng "nốt" ghi vội để các ông biết tôi đã đến21.
Tôi hy vọng thư này sẽ làm thoả mãn hầu hết những đòi hỏi của ngài Bộ trưởng Ngoại giao.
Về những phẩm vật mà tôi đã nói với các ông, tôi nghĩ có bổn phận phải trả lời rằng những quà cáp mà tôi được giao phó tặng Vua [nước Nam] đến từ Vua Pháp và nhân danh Vua Pháp, tôi cố gắng sao cho thích hợp.
Tôi không đem thư gì cho chính phủ nước Nam*; sau khi các ông đã đọc thư tôi, các ông sẽ thấy nhiệm vụ của tôi ở các vùng biển này đều giống nhau và thư uỷ nhiệm cũng như sự bảo đảm nhiêm vụ của tôi chính là hiệu kỳ của Vua nước ta. Vả lại, sự chú ý, quan tâm đặc biệt mà Hoàng đế đã gửi theo chiến hạm Cybèle, là một kỷ niệm hữu nghị hơn là những phẩm vật gửi đến Vua nước Nam. Một thần dân* [như tôi] không được phép dò xét những ý định của quân vương, mà phải thi hành những ý định ấy !... Người đã thực sự sai tôi ngừng lại ở đây và cố tìm cách xin tiếp kiến Hoàng đế nước Nam, để tôi nhân danh Người, mạnh mẽ nói lên những điều mà tôi đã thông báo ở hầu hết các vùng bể này.
Quà cáp, tôi nghĩ, gồm có, một đồng hồ treo, một khẩu súng săn và một cặp súng lục của xưởng chế tạo hoàng gia ở Versailles.
Tôi hy vọng...
A. de Kergariou
6/1/181822
Chaigneau và Vannier đã tuân theo đúng lệnh của triều đình: phải hỏi rõ mục đích chuyến đi, vì lá thư đầu Kergariou nói hàm hồ quá. Nhưng khi Kergariou cho biết không có quốc thư, đáng lẽ Gia Long có thể từ chối ngay, nhưng có lẽ vì vua vẫn giữ cảm tình riêng với nước Pháp, cho nên đã ra lệnh đón tiếp Kergariou. Lệnh này được Vannier thuật lại trong thư gửi Kergariou, sau đây:
Thư của Vannier gửi đại uý Kergariou
Thưa ông,
Sau khi nhận được những thư ông viết cho chúng tôi ngày 1 tháng này, tôi đã hân hạnh báo tin cho Ngài Bộ Trưởng [Nguyễn Đức Xuyên]; chúng tôi đã dịch những thư này sang tiếng Việt và tâu lên Hoàng Thượng. Người tức khắc ra lệnh cho tôi và quan Thượng thư Bộ Lễ [Phạm Đăng Hưng] đến đây mời ông xuống đất liền, để chúc mừng ông đã đến nơi bình an và thảo luận công chuyện; về phần tôi, trước hết, tôi cũng mong được lên tầu để chào ông và trình bầy sự kính trọng của tôi, nhưng nếu chưa làm được ngay lúc này, thì cũng mong ông thứ lỗi.
Tôi hân hạnh...
P. Vannier
Tourane [Đà Nẵng] ngày 10/1/181823.
Việc Gia Long gửi Thượng thư Bộ Lễ Phạm Đăng Hưng đi với Vannier ra Đà Nẵng đón Kergariou (Chaigneau bị thương chân nên không đi được, Kergariou, t. 105), cùng với Dinh thần [Trấn thủ] Quảng Nam, chứng tỏ vua trọng đãi và thực sự muốn tiếp phái đoàn Pháp, vì Phạm Đăng Hưng là một trong những vị đại thần uyên bác, có uy tín. Trong hơn 10 ngày tiếp xúc, đàm đạo, hai bên đãi tiệc lẫn nhau, Phạm Đăng Hưng đã dùng mọi cách, vừa hạch hỏi, vừa giúp đỡ Kergariou tìm lối thoát: nếu có một chứng từ gì của vua Pháp xác nhận nhiệm vụ của Kergariou, khiến triều đình có thể chấp nhận được mà tiếp, nhưng quả thật Kergariou không có giấy tờ gì cả, còn cái tin Kergariou đem đến rao là Pháp Hoàng đã lên ngôi, thì vua Gia Long đã biết từ lâu rồi, qua các thuyền buôn Pháp đến Đà Nẵng. Sau cùng Gia Long phải chấp nhận quyết nghị dưới đây của Công Đồng:
Quyết nghị của Công Đồng
(Viết cho Vannier)
Ông biết rằng hôm nay chúng tôi đã nhận được lá thư của ông, tâu Hoàng Thượng tất cả những gì đã xẩy ra ở Đà Nẵng với viên thuyền trưởng chiến hạm Cybèle của Pháp hoàng; người này đã nói với ông rằng ông ta được vua Pháp gửi tới để báo tin cho Vua nước Nam biết: vị vua đích thực của nước Pháp đã lấy lại được ngôi báu của tổ tiên. Ở đây, dù rất xa nước Pháp, nhưng trước khi chiến hạm của ông đến, đã có những tầu Pháp khác tới buôn bán, báo cho Hoàng Thượng biết tin mừng này rồi, và Hoàng Thượng đã rất vui mừng.
Hôm nay, chúng tôi thấy rằng viên thuyền trưởng Pháp này được gửi tới đây mang ít phẩm vật của Pháp hoàng biếu Vua nước Nam và báo tin cho Hoàng thượng biết Pháp hoàng đã lấy lại ngôi tôn của tổ tiên. Tất cả những thông tin này, chúng tôi đã tâu lên Hoàng thượng, và Người dụ rằng những nước xa xôi nhất, muốn đến chào Người, Người không cản, Người đã ra lệnh triệu tập tất cả các quan họp lại để bàn và quyết định về việc viên thuyền trưởng Pháp tới đây, xem ông ta có thể hay không thể đến chào Hoàng Thượng và dâng lễ vật.
Sau khi đã luận bàn, các quan tâu vua rằng: theo luật xưa và nay, thì khi sứ thần hay phái viên của bất cứ nước nào đến, các quan phải tháp tùng vua trong đại lễ và giới thiệu với vua những sứ thần này cùng với thư ủy quyền và lễ vật của họ. Luật ngày nay cũng thế.
Vị thuyền trưởng chiến hạm Pháp đến đây không có thư gì của vua Pháp; nên chúng tôi không biết giới thiệu ông ta như thế nào trước Hoàng Thượng.
Đó là lời của các quan tâu lên Hoàng Thượng, Người bảo họ nói như vậy có lý, và Người đã tức khắc ra lệnh cho các quan được gửi ra Đà Nẵng tiếp viên thuyền trưởng chiến hạm Pháp, phải báo cho ông ta biết quyết định của Công Đồng và nói với ông ta rằng, vì luật của nhà nước không cho phép, nên vua, dù rất phiền lòng vì không tiếp được ông ta, nhưng luật quốc gia là vậy, vua cũng bắt buộc phải tuân theo. Từ bây giờ, ông thuyền trưởng, khi thấy thuận gió, hoặc thấy cần đi, thì cứ tự do quay về.
Huế, ngày 8, tuần trăng thứ 12, Gia Long năm thứ 16, tức ngày 14/1/1818.
Tôi xin chứng nhận bản dịch này đúng với bản gốc.
P. Vannier24
Những việc Kergariou kể trong hồi ký
Những điều Kergariou kể lại trong hồi ký cho ta biết rõ hơn về chi tiết mọi việc:
"Khi chúng tôi cùng ngồi, ông Vannier làm thông ngôn cho quan đại thần [Phạm Đăng Hưng] cho biết họ được vua nước Nam giao cho nhiệm vụ đến chào và chúc mừng chúng tôi đã đến đây bình an, đồng thời cũng có nhiệm vụ hỏi tôi có đem theo thư của vua Pháp hay thủ tướng Pháp không*.*
Tôi trả lời mơ hồ, bằng cách nhắc lại những điều tương tự trong các bức thư tôi đã viết cho các quan Pháp [Vannier, Chaigneau]. Về điểm đó, ông đại thần ở Huế [Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng] đã có những nhận xét, những bắt bẻ, cuộc nói chuyện kéo dài, trước một cử tọa đông đảo, tôi cố gắng đối đáp với sự giúp đỡ của ông Vannier.
Cuối cùng, sau hàng ngàn câu hỏi của quan đại thần Bộ Lễ, hầu như giống nhau và có vẻ như vô nghiã, tôi đề nghị với ông Vannier, vì không có thư của Hoàng Đế hay của Bộ trưởng, vậy tôi xin đưa cho ông quan bản trích lục những chỉ thị của tôi liên quan đến nước Nam, tôi sẽ chứng nhận và ký tên ở dưới, để gửi cho Hoàng Thượng và Công Đồng.
Mới đầu, ông không chịu; ông lại hỏi nếu tôi có mang theo chỉ dụ của vua Pháp sai sang xin triều kiến vua nước Nam không.
Tôi trả lời là tôi quả có lệnh về việc này. Ông bảo tôi có thể cho ông xem cái chỉ dụ ấy, ông sẽ sai dịch và tâu vua. Tôi trả lời là không thể được; rằng tôi được sai đi nhiều nước, những lệnh này chứa trong nhiều tập sách, tôi không thể giao phó cho ai, cũng không thể dịch ra được, bởi vì trong đó có các khoản không dính líu đến nước Nam. Tóm lại, tôi không thể trái lệnh vì bất cứ cớ gì. Và tôi lại đề nghị một lần nữa, là tôi sẽ trích lục lệnh này ra và đóng dấu của tôi. Không hiểu sao tôi lại nẩy ra cái ý này, và đã thành công (trong lúc đó).
Ông quan có vẻ dịu đi; hình như những con dấu có ảnh hưởng tới họ; về sau, tôi thấy rõ họ coi trọng những con dấu đó, như thể danh dự của họ. Ngoài ra, ông Vannier còn đưa thêm một bằng chứng nữa về nhiệm vụ của tôi: là việc tôi xin vào triều, bởi vì nếu không có lệnh đó thì tôi không dám bỏ chiến hạm đi xa trong thời gian dài như vậy, ở một nước ngoài.
Ông Vannier, hết sức nhiệt thành phục vụ vua [Pháp], đề nghị tôi viết một lá thư [giả của vua Pháp], thì mọi sự sẽ xong xuôi; tôi từ chối và ông Vannier cũng thấy là phải."25
Kergariou kể tiếp: "Dinh thần Quảng Nam, người cao lớn, chẳng nói chẳng rằng gì cả, chỉ nhai trầu và hút thuốc. Tất cả đều do Lễ Bộ điều khiển". Lễ Bộ là người sắc sảo, ông quan sát rất kỹ khi tôi nói chuyện với Vannier như để tìm hiểu những điều chúng tôi nói, không có gì lọt qua mắt ông được:
"Ông có thể lập lại một câu hỏi đến 20 lần, cùng với sự bắt bẻ. Nhìn các dấu đóng ở đầu và cuối bản trích lệnh vua của tôi, so sánh và thấy đồng tiền ở hai dấu ấn, cái tròn, cái vuông, ông tỏ ý nghi ngờ ngay. Lại phải giải thích nữa. Cuối cùng ông cũng ưng thuận gửi văn kiện này về triều với điều kiện tôi phải cho ông Vannier xem bản gốc và cho biết có thực sự đúng như thế không (...) Ông Vannier bảo rằng giống nhau y hệt. Lễ Bộ mới vui vẻ nhận văn bản của mình và nói sẽ gửi về cho Hoàng Thượng và viết thư chứng nhận sự thành thực của tôi..."
"... Ông Vannier nói với tôi rằng tất cả giấy tờ giao dịch của ngoại quốc đều được giữ gìn cẩn thận trong các văn khố, để có thể so sánh, tùy nơi, tuỳ thời; từ những thư mà tôi viết cho ông ấy tới cái note nhỏ báo tin tôi đến, dù chỉ là một mảnh nháp viết vội, ông ấy cũng phải trình ra để lưu lại"26.
Kergariou cũng cho biết trong bữa tiệc các quan khoản đãi phái đoàn, ngoài đũa, bát, còn có khăn giải bàn, dao và nĩa của Anh. Rồi kể về việc rời Đà Nẵng xuống miền Nam như sau:
"Tôi muốn đi dọc theo bờ biển nước Nam một cách chính xác trong vòng thời gian ngắn, tôi bèn yêu cầu ông Vannier cho tôi những lời khuyên, mà, là lính thuỷ, ông biết rõ. Ông đã làm việc cùng ông Dayot trong hơn ba năm, và mới đây ông cũng vừa đi vài chuyến. Chúng tôi lấy tập địa đồ của ông Dayot, dò theo, xem lại tất cả mọi chi tiết và không bỏ qua địa điểm quan trọng nào. Ở thời kỳ ông Dayot vẽ các bản đồ bờ biển nước Nam này, ông ấy chưa thạo tiếng Việt mấy, nên có nhiều tên ghi sai. Ông Vannier đã cho biết tất cả những điạ điểm chính ở bờ biển bằng tên Việt và tôi đã sửa lại"27.
Dù thất bại trong sứ mạng chính trị, nhưng Kergariou đã thám sát bờ biển Việt Nam bằng tập bản đồ của Dayot và đã kiểm soát những địa danh nào viết sai tên, được Vannier chỉnh đốn lại. Kergariou tuyên bố bộ bản đồ Dayot có giá trị lớn28. Sau này, những tầu buôn, tầu chiến của Pháp, đều dùng bản đồ Dayot để đến, hoặc để xâm phạm bờ cõi nước ta.
Vụ tầu Cléopâtre
Dưới thời Vương Chính Trùng Hưng, ngoài chiến hạm Cybèle, còn có những tầu buôn như La Paix và Henry của các hãng Balguerie-Sarget và Philippon gửi tới Việt Nam. Đến năm 1819, hai hãng này còn có hai tầu nhỏ ba cột buồm nữa, cũng đến Đà Nẵng. Nhưng sau đó, Philippon ngừng hẳn, Balguerie-Sarget từ 1820 đến 1826, tiếp tục gửi các tầu: Larose, Neptune, Courrier de la Paix... Sau khi giao cho Chaigneau trở lại Việt Nam với ba chức: Đại Lý, trước triều đình Việt, Lãnh sự với kiều dân Pháp và Khâm sai để ký kết hiệp ước thương mại (xem chương 25, Chaigneau), chính quyền Pháp năm 1822, lại sai chiến hạm Cléopâtre, do đại uý Courson de la Ville-Hélio điều khiển, đến Đà Nẵng, hy vọng nhờ Chaigneau vận động, sẽ xin được tiếp kiến vua.
Cléopâtre cập bến Đà Nẵng ngày 28/2/1822. Chaigneau viết thư thông báo cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp về việc này như sau:
" Tourane ngày 10/3/1822,
Kính gửi ngài Bộ trưởng Ngoại Giao, ở Paris,
Thưa ngài,
".... Hôm nay tôi xin thông báo để ngài biết ngày 28/2 [1822], chiến hạm Cléopâtre của Hoàng Thượng do ông Courson de la Ville Helio điều khiển đã đến đậu ở vịnh này [Đà Nẵng]. Ngay hôm đó, ông thuyền trưởng đã cho tôi hay tin và muốn đến chào Hoàng Đế, nhân danh thuyền trưởng chiến hạm của Pháp hoàng, tôi đã lập tức tâu lên Hoàng Đế, nhưng không được chấp nhận. Dường như, bất chấp mọi cố gắng của tôi để thuyết phục vị vua này về ý nguyện hoà bình của chính phủ Pháp, và mặc dù cũng đến hai lần ông tỏ ý thích thú khi những tầu buôn Pháp đến thăm các hải cảng của ông, nhưng vẫn có sự ngờ vực đen tối chi phối, khiến ông hoài nghi mục đích của chiến hạm vua [Pháp] đến đỗ tại đây. Mối hoài nghi trong lúc này làm thương tổn đến sự tiến triển và mở rộng quan hệ đôi bên, và tôi nghĩ, không có cách gì chấm dứt ngay được"29.
Ngày 10/3/1822, Chaigneau viết một thư ngắn gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, báo tin tầu Cléopâtre chỉ ở có vài ngày rồi phải đi. Từ Paris, Bộ trưởng ngoại giao, trong thư ngày 7/12/1822, khiển trách nặng nề Chaigneau đã không thuyết phục được Minh Mạng hết ngờ vực nước Pháp30.
Salles kể rằng: Ngày 4/3/1822, vua Minh Mạng ra chỉ dụ sai Chaigneau đi đón tầu Cléopâtre, với tư cách là quan của triều đình. Courson de la Ville-Hélio ngỏ ý muốn "đến chào vua", nhưng, theo Salles, "ông Lãnh sự đã hết sức cố gắng, mà cũng không thuyết phục được vua tiếp, thậm chí, nhà vua còn bắt ông phải trở lại Đà Nẵng bằng đường bộ với "một đoàn quân từ Huế" như để đề phòng tầu Pháp tấn công!" Rồi Salles kết luận: "Chính sách thân thiện của Minh Mạng với Pháp là như thế đó!31. Việc này chắc thật, nhưng đó chỉ là nghi lễ đối với các chiến hạm ngoại quốc, bởi vì khi sứ bộ Roberts đến, Chaigneau cũng được lệnh đem quân đi đón, có lẽ vừa để tỏ niềm trân trọng, vừa thị uy, vừa đề phòng bất trắc.
Sứ bộ John Crawfurd
Sáu tháng sau khi tầu Cléopâtre nhổ neo, tầu John Adam của Công Ty Anh-Ấn cập bến Đà Nẵng ngày 14/9/1822, với John Crawfurd, đại diện Hầu tước de Hastings, toàn quyền Anh ở Ấn Độ.
Sau vụ Roberts, năm 1804, bỏ đi với lá thư cực kỳ vô lễ, khiến vua Gia Long nổi giận, chính quyền Anh, tìm cách trở lại dưới triều Minh Mạng, lần này đổi thái độ: John Crawfurd không xin đất để mở thương điếm nữa, mà hài lòng nhận quyền được tự do buôn bán như các nước khác, nên vua Minh Mạng tiếp đãi tử tế, cho phép đến Huế, tuy vẫn không được yết kiến.
Thực Lục, tháng 9/1822, ghi:
"Tổng đốc Manh Nha Hố (tên đất) nước Anh Cát Lợi là Hà Sĩ Định [Hastings] sai Cá La Khoa Thắc [John Crawfurd] mang thư đến dâng phương vật (500 khẩu súng tay, một đôi đèn pha lê lớn). Thuyền đến Đà Nẵng. Dinh thần Quảng Nam dịch thư dâng lên. Trong thư chỉ xin thông thương, cũng như các ngoại quốc khác, không dám xin lập phố để ở. Sai đưa đến Kinh. Ca La Khoa Thắc thành khẩn xin yết kiến.
Vua nói: "Hắn là người của Tổng Đốc phái đi, không phải do mệnh của quốc vương". Không cho. Những phẩm vật dâng biếu, cũng không nhận. Sai hữu ty bàn định điều lệ về các nước đến buôn, làm thư của Thương Bạc bảo cho biết [điều lệ buôn bán này là một danh sách rất dài tên các sản vật nhập khẩu và chiều kích các tầu thuyền vào cảng, kèm với giá thuế phải đóng, theo từng miền, từng nước; được ghi lại trong Thực Lục]. Thưởng cấp cho rồi bảo về (thưởng tổng đốc Hà Sĩ Định ngà voi ba đôi, quế 10 cân, kỳ nam, trầm hương đều 5 cân, sừng tê bịt vàng 4 toà, đường phèn 300 cân; thưởng Cá La Khoa Thắc, ngà voi một đôi, quế 2 cân, sừng tê 1 toà, trầm hương 2 cân: thưởng người trong thuyền, bò, dê, lợn, đều 10 con, gà vịt đều 100 con, gạo trắng, gạo đỏ, đều 50 bao, gạo nếp 20 bao. Các thứ thưởng cho viên tổng đốc thì Cá La Khoa Thắc từ không dám lĩnh)32.
Crawfurd được phép đến Huế với vài người tuỳ tùng. Hai ngày sau Chaigneau và Vannier đến đón, dẫn Crawfurd lại chào quan Tượng binh [Nguyễn Đức Xuyên], từ đó gặp gỡ luôn, trong các cuộc thương thuyết, hoặc dẫn Crawfurd đi chơi trong kinh đô để thấy sự kiên cố của hoàng thành33.
Theo Cadière, ngày 3/10/1822, Chaigneau mời tất cả phái đoàn Anh và kiều dân Pháp tại Huế đến dự tiệc ở nhà ông. Sau tiệc, cả đoàn đi thăm phố chợ. Vannier ở làng Minh Hương gần Bao Vinh, cách nhà Chaigneau khá xa. Cadière dịch lời Crawfurd kể rằng:
"Ngày 4/10: Ông Chaigneau tiếp đón chúng tôi hôm qua trong dinh cơ của ông ở bên bờ sông. Bữa ăn hoàn toàn Pháp. Ở nhà ông Vannier hôm trước, chúng tôi cũng được tiếp như thế. Tất cả người Pháp ở chung quanh khu chợ đều được mời đến dự tiệc trong hai dịp này. Một ông bác sĩ già [Despiau] đã làm việc trên tầu của ông de Suffren, người cháu [Eugène Chaigneau] và hai con trai của ông Chaigneau; các giáo sĩ Pháp ở xa, cách 15 dặm, nên chúng tôi không gặp. Vợ ông Chaigneau là con một người Pháp rất đàng hoàng, bà đã theo chồng sang Pháp cách đây ba năm. Bà Vannier người Việt, nét mặt thanh tú, dáng dỏng cao, xinh đẹp như người miền nam châu Âu. Cả hai ông và vợ đều mặc y phục Việt; họ phải theo tục lệ ở đây: tất cả những người ngoại quốc nào muốn ở đây luôn cũng phải ăn mặc như vậy; ngay cả người Tầu, ban đầu nhất định không chịu, rồi sau cũng phải theo; vì đó là tự ái dân tộc Việt. Họ cho rằng y phục ngoại quốc, dù sao chăng nữa, cũng rất buồn cười, khêu gợi lòng hiếu kỳ, sẽ trở thành rất bực bội... Hai chủ nhân đã tiếp chúng tôi hết sức lễ độ, hiếu khách, hoà nhã chân thành khó có thể hơn được. Tôi vẫn giữ lòng biết ơn đối với sự ân cần mà họ dành cho chúng tôi." và Cadière viết thêm câu: "...sự khen ngợi này, không có gì khả nghi, đến từ ngòi bút của trưởng phái đoàn Anh vừa cướp chỗ của Pháp ở Việt Nam"34.
Trích đoạn trên đây cho thấy sơ qua sinh hoạt của người ngoại quốc ở Việt Nam đầu thời Minh Mạng: Không có chuyện "bế quan toả cảng", thuyền tầu ngoại quốc ra vào và kiều dân Pháp sinh sống bình thường, tuy phải mặc quần áo Việt. Tuy Crawfurd không được hưởng thêm một ân huệ gì mới, cũng không xin được bệ kiến vua, nhưng sứ mệnh coi như thành công và Crawfurd có cảm tưởng triều đình đã dịu bớt nghi ngờ nước Anh.
Sự kiện được coi là thành công của sứ bộ Crawfurd, càng làm cho Pháp bực bội, ganh tỵ và khó chịu về sự thất bại của Chaigneau. Cadière cho rằng Anh đã "cướp" chỗ của Pháp ở Việt Nam.
Sau vụ Crawfurd, Chaigneau và Vannier càng thêm chán nản. Ngày 9/12/1822, linh mục Taberd viết cho một người bạn: "Hai ông này chán ở đây rồi, muốn trở về Pháp". Chaigneau cũng viết cho linh mục Baroudel ngày 23/5/1823: "Tôi sẽ lấy tầu Larose về Pháp trong kỳ gió mùa sắp tới"35.
Nam tước de Bougainville và tầu Thétis
Ba năm sau vụ tầu Cléopâtre, đúng lúc Chaigneau, Vannier rời Việt Nam để về Pháp vĩnh viễn, Pháp hoàng Louis XVIII, gửi chiến hạm Thétis chở 44 đại bác và 300 thuỷ binh do Nam tước de Bougainville điều khiển, đến Đà Nẵng, và tầu Espérance đến sau. Tầu Thétis ở lại từ 13/1/1825 đến 17/2/1825. Lần này đã chuẩn bị kỹ càng: Nam tước mang theo quốc thư của Pháp hoàng, nội dung cảm ơn vua Minh Mạng đã đối xử tốt với người Pháp và tầu buôn Pháp và giới thiệu sứ giả de Bougainville, đại diện Pháp hoàng đến xin thông thương và chào mừng vua Việt, trong thư có kèm danh sách các tặng phẩm36.
De Bougainville được tiếp đãi trọng thể, nhưng vẫn không được gặp vua.
Thực Lục, tháng 12 năm Giáp Thân [19/1/1825-18/2/1825] ghi việc này như sau:
"Nước Phú Lãng Sa sai người đem quốc thư và phẩm vật đến xin thông hiếu. Tầu đến Đà Nẵng, dinh thần Quảng Nam đem việc tâu lên.
Vua bảo rằng: "Nước Phú Lãng Sa cùng nước Anh Cát Lợi thù nhau. Năm trước, nước Anh Cát Lợi nhiều lần dâng lễ, trẫm đều từ chối không nhận, nay chẳng lẽ lại cho Phú Lãng Sa thông hiếu! Song nghĩ khi Đức Hoàng Khảo ta bước đầu bôn ba từng sai Anh Duệ Thái Tử [hoàng tử Cảnh] sang nước họ, cũng có ơn cũ, nếu vội cự tuyệt thì chẳng phải là ý mến người xa". Liền sai làm thư của Thương Bạc [viết thư thay quan Thương Bạc, vì Nguyễn Đức Xuyên mới mất] và thưởng cho mà khiến về. Quốc thư cùng lễ vật thì không cho trình dâng"37.
Lúc ấy, Anh đang xâm chiếm Miến Điện và trước bối cảnh nước Tầu bị liệt cường xâu xé, chính sách ngoại giao của Minh Mạng nghiêm ngặt hơn: Vua không muốn gây sự cạnh tranh giữa hai cường quốc Anh-Pháp, nhưng kiên trì giữ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, cho nên ông từ chối cả hai phiá, không tiếp sứ giả nước nào.
Thư de Bougainville tường trình cho Bộ Hải Quân, phân tích rất đúng tình hình, giống như lời vua Minh Mạng ghi trong Thực Lục ở trên:
Kính gửi ngài Bộ Trưởng Hải Quân,
Vịnh Đà Nẵng ngày 12/2/1825, trên tầu Thétis,
Thưa ngài,
Tôi rất tiếc báo tin ngài rõ chẳng may tôi bị thất bại trong nhiệm vụ mà tôi hân hạnh được vua giao phó, tôi không xin được phép yết kiến vua nước Nam để đệ trình thư và quà mà tôi có nhiệm vụ đem đến. Nhà vua lấy cớ [trong triều] không còn ai đọc và dịch được thư nữa để từ chối; nhưng tôi chắc chắn rằng, hiện nay ông sợ người Anh, đang xâm chiếm Miến Điện, khiến ông rất lo ngại, và đó là lý do đích thực. Vì đã từ chối không tiếp ông Crawfurd, cho nên nếu ông tiếp tôi thì sẽ có chuyện với người Anh. Dường như ông e ngại nếu họ hay tin ông chấp nhận tiếp người Pháp tại triều, thì họ sẽ gửi ngay một sứ bộ đến, điều này sẽ làm ông khó xử, bởi vì dứt khoát là ông không cho phép họ thiết lập căn cứ ở vương quốc của ông.
Thưa ngài, tôi tin rằng sự cẩn trọng đã khiến vua nước Nam quyết định như thế và ta nên hiểu đường lối của ông tùy thuộc vào hoàn cảnh ông đang ở trong vị thế khó khăn, chứ không phải bởi vì ông tính đuổi người Pháp khỏi xứ và chấm dứt quan hệ thương mại với nước ta.
Những Khâm sai của vua bảo đảm với tôi rằng nhà vua vẫn muốn những tầu Pháp tiếp tục ghé các bến cảng của ông và tôi tin rằng những sự hậu đãi đặc biệt mà nhà vua dành cho tôi là nhờ nhiệm vụ mà tôi được giao phó; một việc nữa làm sáng tỏ thêm điểm này là ông Borel cũng được tiếp đón nồng hậu và ông ta cho rằng lần này ông còn được hưởng những điều kiện thương mại dễ dàng hơn những lần trước.
Khi về Pháp tôi sẽ có dịp tường trình bằng miệng với ngài Bộ Trưởng một cách chi tiết về những nhận xét của tôi trong thời gian ở lại Đà Nẵng và tôi sẽ nêu ra những tình huống chính.
Ngay ngày đầu tiên đến đây, tôi đã đưa cho ông quan [trấn thủ] ở đây, một lá thư cho ông Chaigneau, yêu cầu ông ấy đến ngay Đà Nẵng và thông báo sự cập bến của hạm đội, lúc đó tôi không biết ông Chaigneau đã đi rồi. Đến ngày hôm sau, tức ngày 14 [tháng 1/1825], tôi mới biết không còn người Pháp nào ở nước Nam nữa, chỉ có một ông thầy thuốc tên là Despiau, mới mất cách đây ít lâu. Ngài Bộ Trưởng cũng hiểu nỗi bối rối của tôi như thế nào, khi phải giao tiếp với những người tư tưởng hoàn toàn khác chúng ta, và khó khăn lắm tôi mới diễn tả cho họ hiểu được ý mình. Tôi gửi một văn kiện cho quan Thương Bạc để thông báo cho ông việc tôi đến và một chiến hạm [nữa] sẽ đến sau [Espérance], và báo cho ông biết rằng tôi là sứ giả của Pháp hoàng gửi đến quốc vương nước Nam với một nhiệm vụ đặc biệt, và tôi xin ông cho phép tôi đến Huế với một số sĩ quan. Tôi không nhận được thư trả lời [Nguyễn Đức Xuyên mới mất]. Một người Việt nói tiếng Bồ và biết vài câu tiếng Pháp lên tầu, cho biết, ông sẽ về Huế tối nay, và được lệnh đem công văn của tôi về Huế. Tôi đưa cho ông ta một công văn tương tự như bản đầu vì nghĩ nó không đến nơi.
Ngày hôm sau, tầu Courrier de la Paix mà tôi đã để lại ở Manille, đến, viên thuyền trưởng cho biết là đã để ông Borel lên bờ ở cửa sông Hương, và chắc ông ấy đã vào triều rồi; tôi rất mừng, đợi gặp nhà buôn này và tôi đoán quan Thương Bạc đã cho gọi ông. Tuy nhiên, mọi việc không xẩy ra như thế, tôi đợi nhiều ngày không nghe tin tức gì, đến hôm 22 [tháng 1/1825] họ báo cho tôi biết sẽ có hai ông quan trong triều đến thăm, tôi đã tiếp họ với ông Ducamper, mới đến được 48 tiếng". Sau đó Bougainville kể ông nói rõ nhiệm vụ của mình và chỉ cho hai ông quan, thư của vua Pháp vì họ đòi xem, nhưng ông không đưa và xin được đến Huế để trao tận tay vua. Sau khi thăm tầu và xem thao diễn, tối đó họ trở về Huế. Bougainville viết tiếp:
"Tôi cũng hỏi họ về lý do tại sao hai ông Chaigneau và Vannier về Pháp. Họ bảo đảm với tôi rằng hai ông này rời nước Nam vì tự ý muốn về, họ đã được vua thăng chức, được nhận tiền thưởng và gạo trước khi đi. Ông Borel từ Huế ra hôm sau, cũng xác định với tôi sự thực đúng như vậy.
Ngày 30 [tháng 1/1825] ông Borel báo cho tôi biết có hai ông quan ở Huế ra mang theo lệnh vua, cùng 50 vệ binh hộ tống đã đến Đà Nẵng. Trong 4 ngày họ không liên lạc gì với tôi. Đến ngày 3/2[1825] họ mới sai người đến hỏi giờ nào tôi có thể tiếp họ: tôi trả lời trưa nay và cả đoàn đã lên tầu. Một ông tôi đã gặp lần trước, và ông kia cao cấp hơn, là tham tri bộ Hình. Tôi tiếp họ vẫn cùng với ông Ducamper, và lần này buổi họp kéo dài 4 tiếng đồng hồ, vì họ bàn với nhau rất lâu mỗi khi phát biểu; họ nói với tôi rằng nhà vua không thể nhận thư và quà cáp bởi vì từ khi hai ông Chaigneau và Vannier đi rồi, trong triều không còn ai có thể dịch và giải thích nội dung thư".
Sau đó de Bougainville kể tiếp: Ông trả lời các quan rằng, triều đình lấy cớ không có người dịch để từ chối nhận thư là quá mỏng, bởi vì ông Borel ở đây cũng thạo việc dịch vậy và ông cố xin vào triều kiến, nhưng các quan vẫn một mực giữ nguyên vị trí cũ, nói rằng nhà vua rất hài lòng thấy người Pháp đến đây và tầu buôn Pháp cập các bến cảng. Cuối cùng de Bougainville đòi các quan phải viết tay lời từ chối để ông trình với triều đình Pháp, lúc bấy giờ các quan mới nói là họ có nhiệm vụ đưa cho ông lá thư của quan Thương Bạc cùng với quà thưởng của vua. Thư còn để ở cung hành tại và họ được lệnh phải làm lễ long trọng mời tôi đến nhận. Các quan đã trao đồ thực phẩm vua tặng cho quân đoàn. Lễ nhận thư cũng được cử hành trọng thể, vv...38
Đó là lần cuối cùng chiến hạm Pháp đến Việt Nam với ý thân thiện giao hữu, vua Minh Mạng đã tiếp đón họ rất tử tế và de Bougainville đã phản ảnh trung thành mọi sự kiện với chính phủ Pháp.
Louis XVIII từ trần tại Paris ngày 16/9/1924, khi tầu Thétis chưa cập bến Đà Nẵng. Charles X lên kế nghiệp, đó là vị vua cuối cùng dòng Bourbon được tuyên dương. Ông bị lật đổ năm 1830, Louis Philippe lên ngôi (1830-1848). Năm 1847, dưới lệnh đô đốc Cecille, Lapierre và Rigault de Genouilly đem hai chiến hạm Gloire và Victorieuse vào Đà Nẵng lấy cớ giải thoát cho giám mục Lefèbvre (đã được vua Thiệu Trị tha hai lần, và vị giám mục đang tìm cách trở lại Việt Nam lần thứ ba), ngày 15/4/1847 đã đột ngột bắn phá 5 tầu chiến bọc đồng của vua ở vịnh Đà Nẵng rồi bỏ đi. Sự kiện này làm vua Thiệu Trị phẫn uất, từ trần mấy tháng sau đó. Ngày 1/9/1858 liên quân Pháp Y Pha Nho tấn công Đà Nẵng, mở đầu trận chiến 30 năm, xâm chiếm Việt Nam.
Nhìn lại hành trình bành trướng thuộc địa của các nước Âu châu trong thế kỷ XIX: các "thương điếm" của Công ty Anh-Ấn, Pháp-Ấn, chỉ là bề mặt, bên trong chính là bộ chỉ huy tại chỗ của các chính quyền Anh, Pháp ở bên ngoài, có nhiệm vụ nghiên cứu và thực hiện các chính sách xâm lược.
Gia Long thấy Công Ty Anh-Ấn hành xử ở Ấn Độ, sớm biết những âm mưu này, vì vậy ngay khi vừa thống nhất đất nước, ông đã nhất quyết không nhượng cho Anh một mảnh đất nào của Việt Nam để họ làm "thương điếm", mà chỉ cho quyền ra vào buôn bán như các nước Tầu, Nhật... và Roberts đã tỏ thái độ hết sức hỗn xược và đe doạ, phản đối quyết định này.
Minh Mạng, khi mới lên ngôi, đã thấy Anh xâm chiếm Miến Điện, và ông đã áp dụng triệt để phương pháp cũng là lời trăng trối của cha: không gây chiến với nước ngoài. Về ngoại giao, Minh Mạng giữ thái độ trung lập giữa Anh và Pháp, không cho bên nào đặc quyền, có thể gây ganh tỵ, đưa đến chiến tranh. Về nội trị, xây đắp thành trì, củng cố các vị trí chiến lược, thiết lập một quân đội hùng mạnh, đổi mới hệ thống hành chánh và dựng nền tảng giáo dục, lập nền sử học, điạ lý, vv...
Nhờ những sáng suốt và cố gắng của hai vua Gia Long và Minh Mạng, mà chúng ta đã không bị rơi vào hoàn cảnh liệt cường xâu xé như nước Tầu. Tất cả các sử gia thuộc địa đều đổ lên đầu Minh Mạng tội "bế quan toả cảng". Thực ra đó chỉ là chính sách bảo vệ lãnh thổ của nhà vua: không cấm tầu Anh, Pháp vào buôn bán, mà chỉ không cho họ lập "thương điếm" để có "bộ chỉ huy trá hình" trên chính đất nước ta.
Paris tháng 7/2014- tháng 2/2016
© Copyright Thuy Khue 2015
Pierre de Joinville, La Mission de la Cybèle en Extrême-Orient 1817-1818 (Nhiệm vụ của tầu Cybèle ở Viễn Đông 1817-1818), Librairie Ancienne Honoré Champion, Paris, 1914, Introduction, t. IX. ↩︎
TL, I, t. 438. ↩︎
TL, I, t. 564. ↩︎
Louvet, La Cochinchine Religieuse, II, 1885, t. 496, chú thích. ↩︎
La Mission de la Cybèle en Extrême-Orient 1817-1818*,* t. 127. ↩︎
TL, I, t. 602. ↩︎
Chúng tôi không tìm thấy những thư này, nhưng chắc Louvet đã đọc được, nên ông mới chú thích như đã nói ở trên: Anh xin lập thương điếm ở Cù Lao Chàm. ↩︎
Dịch lại bản dịch tiếng Pháp, in trong La Cochinchine Religieuse của Louvet, II, t. 496-498. ↩︎
Cadière, Doc. Rel. t. 57. ↩︎
Tóm tắt lời Ste -Croix, trong bài Introduction, La Relation Bissachère, t. 97-102. ↩︎
Montyon, Exposé statistique... I, t. 169. ↩︎
Theo Barrow, A voyage to Cochinchine, t. 325-327. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle en Extrême-Orient 1817-1818*,* t. 127-128. ↩︎
TL, I, t. 841. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle en Extrême-Orient 1817-1818, t. 151. ↩︎
TL, I, t. 857, 859, 860, 862. ↩︎
TL, I, t. 959-960. ↩︎
Navarre là miền nam Pháp và bắc Y Pha Nho. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle... t. 227-228. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle, t. 230. ↩︎
Note này không thấy in lại. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle, t. 231-232. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle, t. 232. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle, t. 233-234. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle, t. 97-98-99. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle, t. 105, 112, 114. ↩︎
Kergariou, La Mission de la Cybèle, t. 122, 151-152. ↩︎
Xem danh sách tên những nơi đã được Dayot vẽ bản đồi, ở chương 19, Dayot. ↩︎
Thư Chaigneau ngày 10/3/1822, Le Consulat de France à Huế, t. 81. ↩︎
Consulat de France à Huế, Cordier, t. 87-88. ↩︎
Salles, Jean-Baptiste Chaigneau et sa famille, BAVH, 1923, I, t. 87. ↩︎
TL, II, t. 226. ↩︎
Salles, Jean-Baptiste Chaigneau et sa famille, BAVH, 1923, I,t. 89. ↩︎
Cadière, La Maison de Chaigneau, Consul de France à Huế, BAVH, 1922, t. 30, 31. ↩︎
Salles, Jean-Baptiste Chaigneau et sa famille, BAVH, 1923, I, t. 90. ↩︎
Bản sao lá thư in trong Le Consulat de France à Huế, Cordier, t.102-103. Danh sách các tặng phẩm gồm: một đồng hồ quả lắc lớn: 2 đế bạch lạp; 2 bình đồng mạ vàng; 16 bức khắc; 1 khẩu súng pít-ton để trong hộp với đồ phụ tùng; 1 cặp súng lục trong hộp với các đồ phụ tùng. ↩︎
TL, II, t. 388. ↩︎
Thư của Nam tước Bougainville thuyền trưởng tầu Thétis vết từ Đà Nẵng ngày 12/2/1825 gửi Bộ Trưởng Hải Quân Pháp, Le Consulat de France à Huế, Cordier, t. 105-111. ↩︎