Chương 18
De Forçant và Le Brun
Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long
De Forçant vàLe Brun
I- De Forçant (Forçanz)
De Forçant (hay de Forçanz) quê miền nam Bretagne. Không có tên trong danh sách 369 người lính đào ngũ do Faure cung cấp. Tên ông chỉ xuất hiện năm 1800, ông là người tham dự các trận đánh lớn từ 1801, và ở lại triều sau chiến tranh, cùng Chaigneau và Vannier.
Đầu năm 1800, Nguyễn Ánh quyết định đem quân giải vây Bình Định1. Tháng 3/1800, de Forçant, Vannier và Chaigneau, được quản ba thuyền đồng, bổ vào Trung quân, dưới lệnh Tống Phước Lương, trực thuộc đại tướng Nguyễn Văn Trương đi chiến dịch.
Thực Lục, tháng 3/1800) ghi: "Sai Khâm sai thuộc nội Cai đội Nguyễn Văn Chấn [Vannier] quản tầu đại hiệu Phượng Phi, Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] quản tầu đại hiệu Long Phi, Lê Văn Lăng [de Forçant] quản tầu đại hiệu Bằng Phi, theo Trung quân sai phái đi đánh giặc. (Bọn Chấn đều là người Phú Lãng Sa)"2. Về phiá Pháp, tên de Forçant xuất hiện trong thư Le Labousse gửi hội thừa sai Paris ngày 24/4/1800: "Tầu Bằng Phi [l'Aigle] 26 đại bác, do de Forçant, người miền nam Bretage, điều khiển"3.
Nguyễn Ánh không giải vây được Bình Định vì lực lượng thủy quân hùng hậu của Võ Văn Dũng chặn cửa Thị Nại. Đầu năm 1801, dụng cụ đánh hoả công theo chiến thuật Đặng Đức Siêu đã làm xong, Nguyễn Ánh mật định ngày 28/2/1801 sẽ tấn công chớp nhoáng, đó là trận Thị Nại thứ nhì4.
De Forçant lập chiến công trong trận Thị Nại 1801
Theo Thực Lục, trận chiến xẩy ra đêm 28/2 rạng ngày 1/3/1801, Nguyễn Ánh phá tan thuỷ quân của Võ Văn Dũng. Đây là chiến thắng lớn nhất của Nguyễn Ánh, làm thay dổi diện mạo chiến tranh. Đối với những người Pháp đến giúp Nguyễn Ánh, đây là trận đánh đầu tiên có mặt ba người, được ghi nhận trong Thực Lục và các văn bản không chính thức sau đây:
1- Thư Chaigneau viết cho Barisy ngày 2/3/1801: "Barisy thân. Chúng ta vừa đốt sạch thủy quân của địch, không thoát một ghe. Cho tới bây giờ, trận này đẫm máu nhất của quân đội nước Nam. Địch chiến đấu đến chết. Phía ta cũng có nhiều người chết và bị thương, nhưng so với thắng lợi mà vua thu được thì chẳng có gì đáng kể. Vannier, Forçanz và tôi đều dự trận này và trở về lành lặn..."5
2- Thư Barisy gửi M. Létondal ngày 11/4/1801, mô tả trận Thị Nại, cũng nhắc đến tên ba người Pháp tham dự là Forçanz, Vannier và Chaigneau6.
3- Thư Le Labousse ở Bình Khang gửi về hội thừa sai, ngày 20/4/1801, mô tả trận Thị Nại 1801 và viết về nhiệm vụ hộ tống vua của ba người Pháp, đặc biệt chiến công của de Forçant:
"Những sĩ quan Pháp, các ông Chaigneau, Vannier, và De Forçanz, điều khiển các tầu le Dragon [Long Phi], le Phoenix [Phượng Phi] và L'Aigle [Bằng Phi] cũng đi chiến dịch này.
Mỗi người với tầu trang bị khí giới, có nhiệm vụ hộ tống vua và yểm trợ tất cả những chiến thuyền trở về. Nhưng lúc đánh nhau, họ bị giữ lại để hộ tống vua. (...) Ông de Forçanz đã không dằn lòng trước cơn hăng say chiến đấu; lòng can đảm thúc đẩy, đang đêm lẻn vào cảng một mình đốt hết bẩy tầu chiến trang bị khí giới nhiều nhất"7.
Le Labrousse là người duy nhất nói về chiến công của de Forçant trong trận Thị Nại 1801. Tuy nhiên phải nói rõ là trận này Nguyễn Vương không dùng thuyền đại hiệu mà dùng toàn ga-le. Vậy chuyện Le Labrousse kể có thể tin được đến mức nào?
De Forçant dự trận Đà Nẵng và Phú Xuân
Dù thắng trận Thị Nại, nhưng Nguyễn Ánh vẫn không giải vây được Bình Định. Đặng Đức Siêu bèn dâng kế đánh Quảng Ngãi và Quảng Nam trước.
Tháng 3-4/1801, Nguyễn Văn Trương được lệnh tổng chỉ huy thủy quân tiến đánh Quảng Ngãi và Quảng Nam: Phan Văn Đức làm Tả dinh quân Thần sách, Tống Phước Lương và Vương Văn Học chỉ huy vệ Phấn Dực và vệ Thuận Võ. De Forçant, Vannier, Chaigneau, ở dưới quyền điều khiển của tướng Phạn Văn Nhơn, đánh vào cửa biển Đà Nẵng. Sau chiến thắng, trong dịp ban thưởng tướng sĩ, ba người được thăng Cai cơ. Thực Lục, tháng 7/1801, ghi:
"Cho Khâm sai thuộc nội Cai đội Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Chấn, và Lê Văn Lăng làm Khâm sai thuộc nội cai cơ*, vẫn quản các thuyền hiệu Long phi, Phượng phi và Bằng phi"8.*
Tháng 12/1801, de Forçant và Vannier giữ nhiệm vụ tải lương, Thực Lục, ghi:
"Sai chúa tầu Phượng phi là Nguyễn Văn Chấn và chúa tầu Bằng phi là Lê Văn Lăng chở 15.000 phương gạo từ Quảng Nam đến quân thứ Thị Nại"9.
De Forçanz, Vannier và Chaigneau, dự tiếp trận Phú Xuân, Barisy có nhắc đến việc này trong thư ngày 16/7/1801 gửi Marquini và Létondal.
Sau chiến thắng, cả ba đều được thăng Chưởng Cơ, lấy vợ Việt và ở lại Huế.
Chaigneau cưới cô Hồ Thị Huề con ông Hồ Văn Hưng, một gia đình có đạo ở phường Thợ Đúc, Phủ Cam. De Forçant cưới chị/em cô Huề là Hồ Thị Nhơn.
Trong thư M. Audemar, viết ngày 28/4/1811 báo tin J.M Dayot vừa chết vì đắm tầu, có thêm câu: "M. De Forçanz cũng mới chết và chết trong điạ ngục (en réprouvé); ít ra chúng ta không có một ức đoán nào để tin rằng ông ấy đã tự cứu rỗi linh hồn" 10. Vậy de Forçanz từ trần trong tình trạng bỏ đạo. Ông được chôn ở Huế năm 1811.
Sau khi ông mất, theo Cadière trong bài Mộ De Forçant, vua Gia Long ra lệnh đưa các con ông cho Giám mục Labartette ở Quảng Trị trông nom. Cadière giải thích có thể vì vợ ông không chịu theo đạo [?] và ông viết tiếp: "Nghe nói de Forçant có nhiều con: cậu Của [Nguyễn Văn Của], cậu Vinh [Nguyễn Văn Vinh], cậu Nhỏ [Nguyễn Văn Nhỏ] ... có một người đi ra nước ngoài rồi về chết ở Nam Hà, một người khác, đã kết thúc cuộc đời trong nghèo đói, bên bờ dốc thành nội, nơi anh ta ở, gần kho gỗ cũ (mộc thương). Một người con gái không để lại dấu vết rõ. Cậu Nhỏ có lẽ đã mất lúc còn bé, và được chôn cạnh cha. Còn cậu Của, đã để lại kỷ niệm trong lòng họ đạo Phủ Cam, như một kẻ cờ bạc, không làm ăn gì cả"11.
Đức Chaigneau, trong Souvenirs de Huế12cho biết: nhà de Forçant ở Bao Vinh đối diện với nhà Vannier. Mộ ông nằm trên bờ phải kênh Phủ Cam, xóm Phủ Tú, làng Dương Xuân, huyện Hương Trà. Năm 1898, mộ này đề tên Vannier, nhưng Vannier về Pháp và mất ở Lorient. Cadière chứng minh đó là mộ của de Forçant13.
II- Théodore Le Brun
Hai người Pháp đến giúp Nguyễn Ánh, được nhận chức vụ cao và có trách nhiệm hơn những người khác, là Théodore Le Brun và Jean-Marie Dayot. Họ được các sử gia thuộc địa đưa lên hàng đầu trong số những "sĩ quan" có công "dựng lại" nhà Nguyễn. Sự kiện này có lẽ là do, ngay từ đầu, tức là từ ngày 27/6/1790, họ đã được nhận chức cao hơn những người khác vì có thêm chữ Khâm sai và có quyền lớn hơn. Le Brun, chỉ là binh nhất trên tầu Pháp khi đào ngũ, nhưng đã được nhận chức Khâm sai Cai đội thanh oai hầu, quản chiếu việc công thự.
Le Brun, người lính đào ngũ
Théodore Le Brun, không biết quê ở đâu, những điều Faure viết về ông, chép từ Văn khố Bộ Hải quân, in trong cuốn Bá Đa Lộc, rất lộn xộn:
1- "Tầu Vénus khởi hành từ Brest ngày 18/6/1785 và bị nạn trong vịnh Ba Tư. Thuyền trưởng tầu này chuyển sang tầu Méduse ngày 18/6/1788". Câu này không cho biết Le Brun có trên tầu Vénus hay không.
2- Tuy nhiên, trong danh sách thuỷ thủ tầu Vénus đào ngũ, lại có tên Le Brun, Faure viết: "Danh sách tên những thuỷ thủ của tầu Vénus bị đuổi hay đào ngũ, gồm có: Le Brun (Théodore), tình nguyện binh nhì (chức nhận ngày 8/2/1788), chuyển sang tầu Méduse, ngày 19/6/1788". Câu này hoàn toàn mâu thuẫn: đã đào ngũ, sao lại chuyển sang tầu Méduse được?
3- Rồi về tầu Méduse, Faure lại viết: Tên những thuỷ thủ đào ngũ hay bị đuổi [trên tầu Méduse] trong hành trình, gồm có: Le Brun (Théodore), tình nguyện binh nhất (chức nhận ngày 1/1/1789). Lần này Le Brun được lên chức binh nhất. Câu này cũng vô lý: vì một khi đào ngũ, bị bắt là bị tù ba năm khổ sai chèo ga-le. Làm sao Le Brun, đào ngũ ở tầu Vénus, lại lên tầu Méduse, lên chức và đào ngũ lần nữa, trong vòng chưa tới một năm.
4- Faure viết tiếp: "[Le Brun] vào bệnh viện Pondichéry ngày 28/6/1788, ra ngày 28/8/1788, lên bờ ở Macao ngày 13/1/1790, rồi ở lại; nợ Nicholas Lolier 45 piastres à 5l, 8s[?], trị giá 243 livres."14. Như vậy, Le Brun ở bệnh viện Pondichéry trong hai tháng, rồi sau đó phải trở lại tầu Méduse làm việc thêm mấy tháng, tới 3/1/1790, tầu này ghé Macao, anh ta ở lại, và lần này mới thực sự đào ngũ, rồi tìm cách sang Nam Hà.
Thời ấy, việc đi lại không dễ dàng, mọi di chuyển đều dùng thuyền buồm, đi đâu phải chờ gió mùa. Cho là Le Brun tới Macao rồi tìm cách đi ngay, cũng không thể đi được, phải chờ có tầu và thuận gió. Vậy Le Brun chỉ có thể tới Gia Định, sớm là tháng 3, chậm là tháng 6/1790, trước ngày nhận văn bằng Khâm sai Cai đội.
Mà thành Gia Định, theo Trịnh Hoài Đức, đã đắp từ 4/2/Canh Tuất, [19/3/1790], Thực Lục ghi 9/3 Canh Tuất [22/4/1790], 10 ngày đắp xong. Vậy Le Brun đến Gia Định lúc nào, nhập ngũ quân đội Nguyễn Ánh lúc nào? Vẽ bản đồ thành Gia Định lúc nào? Mà trong hầu hết các sách Tây, ta đều thi nhau chép Le Brun là người vễ bản đồ thành Gia Định?
Tóm lại, tất cả các giả thuyết cho rằng Le Brun "vẽ bản đồ thành Gia Định" là hoàn toàn vô lý. Nhất là thành Gia Định là thành đất, Le Brun, dù có là kỹ sư hay kiến trúc sư của Pháp thật, cũng không thể biết cách đắp thành đất, là một lối kiến trúc hoàn toàn Đông phương.
Văn bằng Khâm sai Cai đội của Le Brun
Điều chắc chắn là Le Brun có mặt ở Nam Hà trước ngày 27/6/1790, là ngày nhận chức Khâm sai Cai đội, và được ưu đãi hơn người khác, văn bằng ghi như sau:
"Hoàng Thượng xét thấy tài năng của Théodore Lebrun, quốc tịch Pháp, với bằng văn bằng này, ban cho y chức Khâm sai Cai đội Thanh oai hầu, quản chiếu việc công thự [bản tiếng Pháp dịch là capitaine ingénieur]; vì thế, Hoàng Thượng, giao cho y coi sóc tất cả những đồn luỹ trong nước, và lệnh cho y phải tìm mọi cách để có được sự bảo đảm an toàn cho những thành trì này. Nếu vì bất cẩn, y không làm tròn nhiệm vụ, thì sẽ bị trừng phạt theo luật pháp.
Ngày thứ 15, tuần trăng thứ năm, năm thứ 51, đời Cảnh Hưng (27/6/1790)"15
Qua văn bằng này, ta thấy Le Brun đã tự nhận mình là kỹ sư xây dựng nên mới được vua cho chức Khâm sai Cai đội oai thanh hầu, quản các thành trì. Chức vụ của Le Brun tương đương với chức vụ của Dayot, là Khâm sai Cai đội quản chiếu tầu nhị chích trí lược hầu, tức là Khâm sai Cai đội trông coi hai tầu (quản chiếu tầu nhị chích).
Rất tiếc không có văn bằng của Puymanel để so sánh xem Puymanel được nhận chức gì, khi mới đến. Việc này cũng hơi lạ, vì theo Louvet, Puymanel dịch bằng của các bạn ra tiếng Pháp, mà lại không thấy văn bằng của anh ta.
Trong các văn bằng phát ngày 27/6/1790 được Louvet sưu tầm, chỉ có Le Brun và Dayot được chức Khâm sai Cai đội. Những người khác như Vannier là Cai đội, quản tầu Đồng Nai, dưới quyền Dayot; Isle-Sellé, Cai đội, quản tầu Le prince de Cochinchine, dưới quyền Dayot; Guillon, phó Cai đội, dưới quyền Dayot, và Guilloux, phó Cai đội, dưới quyền Dayot. Vì Dayot đã từng điều khiển tầu buôn ở Ile France, có kinh nghiệm hơn người khác, nên được tới 4 phụ tá: Vannier, Isle-Sellé, Guillon và Guilloux.
Đọc kỹ văn bằng phát cho những người này, ta thấy vua rất nghiêm ngặt, luôn luôn có câu: "Nếu vì bất cẩn, y không làm tròn nhiệm vụ, thì sẽ bị trừng phạt theo luật pháp". Chính vì câu này, mà Dayot, khi làm đắm tầu Đồng Nai, đã bị xử tử, cho nên phải chạy trốn. Trường hợp của Le Brun không biết thế nào, nhưng ta cũng có thể đoán: vì khai man là kỹ sư, nên khi không làm được việc phòng bố các đồn luỹ, sợ bị tội nên đã phải bỏ đi.
Le Brun bỏ đi
Bỏ đi năm 1791, sang Macao, tại đây Le Brun gặp de Guignes, nhân viên hay điệp viên của Pháp ở Quảng Đông, mà chúng tôi đã nói đến nhiều lần trong các chương trước. Có lẽ Le Brun đã cung cấp tin cho de Guignes viết bản báo dài, ngày 29/12/1791 gửi về Bộ Ngoại Giao, được Faure sưu tầm và cho in trong cuốn Bá Đa Lộc16 và bản báo cáo này đã là nguồn phát xuất những thông tin thất thiệt sau này được truyền tụng, chủ yếu đoạn sau đây:
"Các ông Olivier và Le Brun, sĩ quan Pháp, đã cho ông ta một cái bản đồ thành đài. Nhà vua muốn xây ngay, mặc dù cần phải có thời gian thuận tiện. Vì vậy phải sách nhiễu dân chúng, phá nhà cửa, bắt 30.000 dân công làm thành cho vua có nơi rút quân khi thua trận. Quần chúng và quần thần nổi dậy. Olivier và Le Brun, hai tác giả công trình này cũng bị vạ lây. Giám mục Bá Đa Lộc, phải đưa hai ông về trốn ở nhà mình mới tránh khỏi tai nạn này. Rồi bình an trở lại, nhà vua giải tán quân đội, mọi người về làm ruộng, lại có thóc gạo, cơm ăn, không ai than van nữa, kẻ thù thấy dân không nổi loạn nữa nên cũng bỏ không đánh. Ngoài ra nhà vua còn có nhiều tầu ông đã mua của Tây phương, và việc những tầu ở Macao sắp đến Nam Hà, làm cho quân giặc [Nguyễn Huệ] sợ mật viá (crainte salutaire) phải chạy trốn."
Sau khi ba hoa thêm vài dòng về cái oai của thuyền buôn Tây: chỉ cần ghé Sài Gòn, đã làm Nguyễn Huệ "sợ mất viá", vậy mà Nguyễn Ánh không dám lợi dụng cơ hội, đánh ra Bắc; điệp viên de Guignes (được Faure tôn lên làm lãnh sự) đổ lỗi tại Nguyễn Ánh nhút nhát, vì vậy: "ông Le Brun, thấy vua đánh giặc chậm quá, đã bỏ về Macao"17.
Faure thấy de Guignes viết câu này sai, bèn chua thêm chú thích: "Như vậy, chắc chắn anh lính tình nguyện binh nhất Le Brun chẳng ở Nam Hà lâu hơn 15 tháng. Le Brun bỏ đi, không phải vì đánh chậm, mà bởi vì ít lương, và nhất là anh không bằng lòng ở dưới lệnh của Olivier*, chỉ là tình nguyện binh nhất thôi, vậy mà được chức Tham mưu trưởng quân đội Nam Hà (Chef d'état-major de l'armée de Cochinchine) chức vụ làm cho anh có quyền điều khiển người đồng bạn"*18.
Đọc những trích đoạn này, ta thấy rõ tác hại của loại thông tin và lập luận của de Guignes và Faure:
Người ta đã dựa vào những lời "báo cáo láo" của de Guignes để xác định những chuyện không tưởng sau đây:
Thuyền buôn Tây phương làm cho quân Tây Sơn sợ mất viá.
Nguyễn Ánh không dám đánh ra Bắc (Nguyễn Huệ, còn đó, làm sao mà đánh?).
Olivier và Le Brun "cho" Nguyễn Ánh một bản đồ xây thành đài.
Nguyễn Ánh vội vàng xây, sách nhiễu dân chúng, nên quan quân nổi loạn.
Olivier và Le Brun "tác giả" thành Gia Định phải nhờ giám mục Bá Đa Lộc cứu thoát...
Trong chương 12, chúng tôi đã nói kỹ về Huyền thoại Le Brun và Puymanel xây thành Gia Định và Diên Khánh, ở đây, xin thêm một nhận xét nữa, rằng: Có lẽ de Guignes không bịa ra những "thông tin" này, y đã chép những gì nghe Le Brun kể lại. Le Brun, có thể giống như Dayot, tức là sau khi bỏ đi, phải thuật lại chuyện mình cho hay: xuất thân binh nhất, nhưng khai man là kỹ sư, nên được vua trao trọng trách quản lý các thành trì. Vì không làm được, sợ bị tội nên phải bỏ đi. Về Macao bịa chuyện: cho vua bản đồ và vua đã vội vã xây thành theo bản đồ của y và Puymanel cho, nên dân mới nổi loạn, khiến y và Puymanel bị vạ lây.
Le Brun chỉ ở Nam Hà từ tháng 6/1790 đến năm 1791 (chưa biết rõ ngày nào), nhưng y đến Macao trước ngày de Guignes viết bài báo cáo (29/12/1791), tức là không quá 15 tháng như Faure viết. Nhưng Faure lại biạ chuyện Puymanel làm Tham mưu trưởng quân đội Nam Hà, chức này do Dayot nói với Ste-Croix để tự thăng mình và Puymanel lên, hoặc chính Ste-Croix bịa ra, Faure chép lại. Cho nên lập luận: Le Brun bỏ đi vì chê lương ít và phải làm dưới quyền của Puymanel của Faure cũng sai nốt.
Tóm lại, các lính đào ngũ đến đầu quân, đều khai man là sĩ quan hoặc có bằng cấp, nên mới được vua cho chức Cai đội tương đương với Capitaine, nhưng ít lâu sau, có thể Le Brun đã không làm được công việc giao phó, nên bị đuổi, hoặc tự ý bỏ đi.
Chúng ta thấy ở đây: không phải chỉ có lính đào ngũ khai man để nhận chức Cai đội, mà những người viết sử thực dân, đã dựa vào sự khai man, rồi tự tiện thăng chức thêm nữa cho những người này, bất kể lô-gích.
Cosserat cho biết Le Brun trở về Macao, rồi biệt tích19.
Nhưng sau này Taboulet tìm thấy một thư Le Brun viết từ Ile de France ngày 15/6/1792, cho M. Létondal, trong có câu: "Tôi lui về ở cách bến tầu ba dặm, chỗ người bà con có nhà thợ ruộm, tôi trông nom công việc và làm quản lý cho họ. Còn hơn là làm việc cho vua Nam Hà"20.
Le Brun là người được một số ngòi bút thuộc địa và Việt Nam dựng nên huyền thoại vào loại cao nhất, cùng với Olivier de Puymanel và Jean-Marie Dayot, tuy nhiên, cũng nên phân biệt hai thái độ đối với nhân vật này:
Sainte-Croix, viết theo lời kể của Dayot, không đả động gì đến Le Brun, chắc vì Dayot không ưa Le Brun. Faure, Maybon và Cadière cũng không "tha thiết" lắm với Le Brun. Chỉ có Taboulet thượng thăng Le Brun lên hàng: "nhà thiết kế đô thị đầu tiên của Sài Gòn". Và sự dựng đứng này được nhiều người viết sử Việt Nam chép lại.
Le Brun trở thành "nhà thiết kế đô thị" đầu tiên của Sài Gòn
Tại sao lại có sự chấp nhận dễ dàng một người lính đào ngũ binh nhất, trở thành "nhà thiết kế đô thị", mà không tìm hiểu sâu xa, như thể, tất cả những người Pháp đến nước Việt, dù vô học, cũng dễ dàng trở thành các "đại kỹ sư", "đại kiến trúc" như vậy?
Chúng tôi tạm đưa ra mấy giả thuyết sau đây:
1- Vì cái tên Le Brun (cũng viết là Lebrun), gợi sự liên tưởng tới Charles Le Brun (1619-1690) hoạ sĩ đại tài, trang trí cung điện Versailles của Louis XIV. Vậy chính cái tên Le Brun của Théodore đã gây ấn tượng mạnh khiến người ta tưởng anh ta là con cháu Charles Le Brun; do đó, chỉ cần nghe phong thanh có một bản đồ thành Sài Gòn do Le Brun vẽ, người ta tin là thật ngay và khi Taboulet đặt Le Brun lên hàng "nhà thiết kế đô thị đầu tiên của Sài Gòn", thì mọi người thi nhau chép lại.
2- Vì văn bằng của vua cấp cho Le Brun là Khâm sai Cai đội thanh oai hầu quản chiếu việc công thự, và giao cho nhiệm vụ trông nom tất cả các thành trì trong nước (le soin de toutes les fortifications de ses Etats), theo như bản dịch tiếng Pháp, nhưng chúng tôi tin rằng câu này không dịch đúng nguyên văn chữ Hán, vì nếu một người có quyền trông nom tất cả các thành trì thì người ấy phải là thượng thư bộ Công, hoặc quyền thượng thư, nhưng lúc đó chưa có chức này. Văn bằng tuy ghi là Puymanel dịch nhưng Puymanel mới đến Việt Nam năm 1788, thì 1790 chưa thể dịch được văn bằng chữ Hán, chắc Trần Văn Học hay Hồ Văn Nghị dịch giúp.
Dịch giả diễn chức vụ của Le Brun sang tiếng Pháp là capitaine ingénieur (đại úy kỹ sư), chúng tôi dịch lại là quản chiếu việc công thự.
Sau đó đến câu: "và lệnh cho y phải tìm mọi cách để có được sự bảo đảm an toàn cho những thành trì này" (et lui enjoint de prendre tous les moyens possibles pour pourvoir à leur sureté). Câu này gây khó khăn: nếu vua lệnh cho Le Brun phải "bảo đảm an toàn" những thành trì này, thì y lại không phải là "kỹ sư" nữa mà y là "tướng". Do đó, vì không có bản trực dịch văn bằng này từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ, thì khó có thể biết đúng nhiệm vụ vua giao cho Le Brun.
3- Tuy vậy, có mấy điểm ta có thể chắc chắn:
Le Brun khai man là kỹ sư chuyên về đồn luỹ, nên mới được nhận chức quản chiếu công thự.
Văn bằng của vua viết rất nghiêm khắc: nếu không làm được việc thì phải chịu tội.
Việc vua trao cho Le Brun khó làm, quá khả năng của y, nên tránh bị tội, y mới bỏ đi.
Sau khi bỏ đi năm 1791, thì năm sau, Le Brun nhận công việc trông coi nhà thợ nhuộm của người bà con ở Ile de France21 điều này chứng tỏ Le Brun không có học lực chuyên biệt, hoặc khả năng của một chuyên ngành.
Sau những khảo sát về nhân vật này, chúng tôi xin nhấn mạnh một lần nũa: Bản đồ thành bát quái được in lại trong sưu tập bản đồ của các tác giả thuộc địa, ghi là bản đồ Le Brun 1799, không thể là của Le Brun, vì Le Brun đã bỏ đi từ năm 1791, và nếu Le Brun có vẽ được một bản đồ nào đó về thành bát quái thì cũng chỉ là sự vẽ lại một bản đồ có sẵn của thành bát quái đã đắp xong. Vì, thứ nhất, khi Le Brun đến Gia Định nhận văn bằng thì thành đã làm xong rồi, và thứ hai, không có điều gì chứng tỏ Le Brun đã từng học ngành kiến trúc. Còn cái bản đồ thành phố Tây phương theo kiểu Mỹ với 40 đại lộ ngang dọc mà mọi người nhắc đến, kể từ Cadière trở đi, rồi Taboulet phóng đại thêm ra, để chứng tỏ "tài năng" của Le Brun, thì chưa ai tìm thấy ở đâu cả.
Công việc của chúng ta ngày nay, không phải là bác bỏ công lao của những người Pháp này, mà là tìm lại sự thực lịch sử. Ai có công thì ghi. Những gì chỉ là lời đồn, cũng phải được đưa ra ánh sáng.
© Copyright Thuy Khue 2015
Vì Võ Tánh và Ngô Tòng Châu bị Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bao vây rất ngặt trong thành. ↩︎
TL, I, t. 407. ↩︎
Cadière, Doc. Rel. BEFEO, t. 39. ↩︎
Trận Thị Nại thứ nhất xẩy ra tháng 7/1792, Nguyễn Ánh phá tan thuỷ quân của Nguyễn Nhạc ↩︎
Cadière, Doc. Rel. BEFEO, t. 39-40. ↩︎
Cadière, Doc. Rel. BEFEO, t. 41. ↩︎
Cadière, Doc. Rel. BEFEO, t. 46. ↩︎
TL, I, t. 451. ↩︎
TL, I, t. 474. ↩︎
Cadière, Doc. Rel. BEFEO, t. 61. ↩︎
Cadière, Le tombeau de de Forçant (Mộ De Forçant) BAVH, 1918, II, t. 65. ↩︎
Michel Đức Chaigneau, Souveniers de Huế, t. 194, note 1. ↩︎
Cadière, Le tombeau de de Forçant, BAVH, 1918, II, t. 59-60. ↩︎
Faure, Bá Đa Lộc, t. 241, 243. ↩︎
Louvet, La Cochinchine religieuse, I, t. 536. ↩︎
Faure, Bá Đa Lộc, t. 214-216. ↩︎
Báo cáo của de Guignes, Faure, Bá Đa Lộc, t. 214- 215. ↩︎
Faure, Bá Đa Lộc, note số 2, t. 215. ↩︎
Cosserat, Notes biographiques sur les Français au service de Gia Long*,* BAVH, 1917, III, t. 174. ↩︎
Taboulet, La Geste française en Indochine, I, t. 245. ↩︎
Thư Le Brun viết ngày 15/6/1792, Taboulet, I, t. 244. ↩︎