<?xml version="1.0" encoding="utf-8" standalone="yes"?>
<rss version="2.0" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom">
	<channel>
		<title>Sóng từ trường III on Thụy Khuê</title>
		<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/</link>
		<description>Recent content in Sóng từ trường III on Thụy Khuê</description>
		<generator>Hugo</generator>
		<language>vi</language>
		
		
		
		
			<lastBuildDate>Thu, 01 Jan 2004 00:00:00 +0100</lastBuildDate>
		
			<atom:link href="https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/index.xml" rel="self" type="application/rss+xml" />
			<item>
				<title>Tựa</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/tua03/</link>
				<pubDate>Thu, 01 Jan 2004 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/tua03/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Chúng ta có một nền văn học, nhưng chưa có một nền phê bình, đó là điều bất hạnh đầu tiên. Ðiều bất hạnh thứ nhì là nền văn học này, qua những xâu xé của chính trị và chiến tranh, đã bị cắt đứt thành nhiều mảnh. Và cho đến nay, bất cứ người nào, dù thiết tha với văn học Việt đến đâu, cũng không thể có phương tiện tra cứu toàn bộ những tác phẩm và tác giả giá trị của Việt Nam trong thế kỷ XX.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Phạm Duy Khiêm, nhà văn của miền thanh lãng</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/pdkhiem0/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/pdkhiem0/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;nhà-văn-của-miền-thanh-lãng&#34;&gt;nhà văn của miền thanh lãng&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Trong số rất ít nhà văn người Việt viết tiếng Pháp, có hai khuôn mặt nổi trội: Phạm Duy Khiêm và Nguyễn Tiến Lãng. Cả hai đều sinh trưởng trong những năm đầu thế kỷ XX và đã sống qua hai giai đoạn lịch sử: An Nam và Việt Nam. Tên An Nam, xuất phát từ An Nam đô hộ phủ, do vua Cao Tông nhà Đường đặt cho nước ta từ năm 679 dưới ách đô hộ của nhà Đường. Khi người Pháp đến, họ lấy lại tên An Nam này để ngầm xác định dấu ấn nô lệ trên cái tên nước, đồng thời gọi người Việt là annamite, để hạ thấp nhân phẩm kẻ bị trị thêm một lần nữa. Giai đoạn thứ nhì, nước Việt độc lập, lấy lại tên cũ Việt Nam do vua Gia Long đặt. Và người Việt trong tiếng Pháp trở thành vietnamien, một danh từ bình đẳng hơn. Với chữ vietnamien, dân Việt không còn dấu ấn đô hộ, trở thành một dân tộc bình thường như tất cả các dân tộc khác. Tựu trung, hai thời kỳ lịch sử có thể tóm gọn lại trong hai chữ: An Nam - Việt Nam, annamite và vietnamien.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Nguyễn Tiến Lãng</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/ntlang00/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/ntlang00/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;trên-những-nẻo-đường-nổi-dậy&#34;&gt;trên những nẻo đường nổi dậy&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;h3 id=&#34;tiểu-sử&#34;&gt;Tiểu sử&lt;/h3&gt;&#xA;&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Nguyễn Tiến Lãng sinh ngày 9/9/1909 tại huyện Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên (nguyên quán làng Hội Xá, phủ Mỹ Ðức, tỉnh Hà Ðông) trong một gia đình có truyền thống nho học. Cha làm tri huyện. Anh cả là Nguyễn Mạnh Bổng (bút hiệu Mân Châu). Anh rể là thi sĩ Tản Ðà. Các bút hiệu khác: Hán Thu, Thượng Uyển. Học trường Bưởi, lycée Albert Sarraut rồi đại học Luật khoa Hà Nội. Ngay khi còn ở trường Bưởi, Nguyễn Tiến Lãng đã nổi tiếng xuất sắc về văn chương, những bài luận văn của ông được thày trao cho toàn quyền Robin đọc. Robin cảm mến tài nghệ người học trò nghèo nên cố gắng giúp đỡ cấp học bổng vào lycée Albert Sarraut.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Hồ Hữu Tường và Chủ nghĩa dân tộc</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/hhtuong0/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/hhtuong0/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;và-chủ-nghĩa-dân-tộc&#34;&gt;và chủ nghĩa dân tộc&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;h3 id=&#34;tiểu-sử&#34;&gt;Tiểu sử&lt;/h3&gt;&#xA;&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Hồ Hữu Tường sinh ngày 8 tháng 5 năm 1910 tại làng Thường Thạnh, huyện Cái Răng, tỉnh Cần Thơ, con ông Hồ Văn Sây và bà Võ Thị Nữ, cháu nội ông Hồ Văn Điểu.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&#xA;&lt;/blockquote&gt;&#xA;&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Xuất thân trong một gia đình nghèo, cha mẹ làm tá điền cho người cậu là điền chủ và hội đồng. Tại nhà cậu, sáu tuổi, Hồ đã đọc Nam Phong. Cha đặt cho cái tên cúng cơm là thằng Thuộc vì đọc đâu nhớ đấy. Hồ cho rằng mình đã bị Nam Phong &amp;quot;đầu độc&amp;quot;, gieo và đầu chất &amp;quot;tân hủ nho&amp;quot; từ nhỏ, sau phải nhờ Phan Văn Hùm &amp;quot;gột rửa&amp;quot;. Lớn hơn chút nữa, đọc và chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của Đông Pháp Thời Báo. Tại trung học Cần Thơ, cùng các bạn tổ chức nội san. Báo tiếng Việt, nhưng Hồ viết bài tham luận bằng tiếng Pháp để &amp;quot;cho Tây nó đọc&amp;quot;, ký tên Pierre Vutren, do chữ Ventru nói lái, dịch từ biệt hiệu Tường Bụng (Tường bụng to). Ký như thế chẳng khác &amp;quot;lậy ông tôi ở bụi này&amp;quot;, lại thêm việc tổ chức bãi khóa nhân vụ xử Nguyễn An Ninh, cả bọn bị đuổi. Lúc ấy là năm 1926, Tường 16 tuổi, gia đình cho sang Pháp du học.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Hồ Dzếnh, vườn Thanh và nỗi sầu vạn cổ</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/hodzenh/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 2002 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/hodzenh/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;vườn-thanh-và-nỗi-sầu-vạn-cổ&#34;&gt;vườn Thanh và nỗi sầu vạn cổ&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;Đất Thanh Hóa, vườn Thanh, quê ngoại Hồ Dzếnh, cũng là quê hương mối tình thứ nhất với người yêu Hồng Phúc biệt hiệu &amp;quot;&lt;em&gt;người em gái&lt;/em&gt;&amp;quot;, người mà Hồ Dzếnh đã phác họa chân dung bằng những nét:&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Em ăn em nói em cười,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Kiếp này không có hai người như em&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;người mà Hồ Dzếnh nhắn nhủ:&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Đừng mong ước cả Thiên Đường&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Trần Thị Ngh., Lạc đạn và mười truyện ngắn</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/tran-ngh1/</link>
				<pubDate>Thu, 01 Jan 2004 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/tran-ngh1/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Nơi Trần Thị Ngh. vận tốc làm cho người đọc giật mình: &lt;em&gt;&amp;quot;Mặt mụ ta thấy ghét thật. Da&lt;/em&gt; &lt;em&gt;căng bóng, hai con mắt nhỏ, tóc chải xước ra sau túm lại thành cái búi củ hành chừa cái trán trống trên đó một mụt ruồi bằng đầu đũa đậu lửng lơ giữa đôi chân mày đã bị cạo trọc lóc để thay vào hai đường xăm vụng về. Đầu đít một mét tư, mụ ngồi thun lại còn có mấy tấc sau lưng ông xe ba bánh, hai tay bấu hai bên yên. Tưởng tượng từ đàng xa lao xe 100 phân khối tới mục tiêu, tôi có thể cày nát mụ không kịp ngáp. Chắc chắn lúc đó mụ đang nhìn kẻ sát nhân trong cự li gần.&amp;quot;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Phòng triển lãm mùa đông của Thơ Thơ</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/thotho01/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 2002 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/thotho01/</guid>
				<description>&lt;p&gt;&lt;em&gt;Phòng triển lãm mùa đông&lt;/em&gt; gồm mười bốn truyện ngắn, thì ít nhất có đến tám truyện đặc sắc, trường hợp đặc biệt đối với một tác phẩm đầu tay. Những nét đặc sắc này toát ra ở không khí khác thường của tác phẩm, như trong các truyện &lt;em&gt;Vườn lan, Mùa hè ... từng đoạn ngắn, Phòng triển lãm mùa đông, Lời chia tay cuối, Một nơi để viết&lt;/em&gt;. Hoặc đến từ môi trường bình thường, gần như tầm thường của cuộc sống hàng ngày, mà tác giả đã vắt ra được những cái bất thường, như trong các truyện &lt;em&gt;Sơn, Nhà trẻ, Độ đau của máy, v.v&lt;/em&gt;...&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Con Nữ của Đỗ Quỳnh Dao</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/qdao0/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/qdao0/</guid>
				<description>&lt;p&gt;&lt;em&gt;Con nữ&lt;/em&gt;, giao điểm giữa nhà văn và thầy thuốc, giữa văn chương và y học. Với tác phẩm đầu tay, Đỗ Quỳnh Dao chọn con đường khó, với một bác sĩ, Đỗ Quỳnh Dao tìm cách chữa những bệnh nan y.&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Con nữ&lt;/em&gt; tập hợp mười trường hợp bệnh lý mà nhà văn đem ra khảo sát, mổ xẻ bằng ngòi bút. Một ngòi bút thận trọng và chừng mực, can đảm giải phẫu nhiều lớp tuổi đời: từ tuổi thơ đến tuổi dậy thì, &lt;em&gt;âge ingrat&lt;/em&gt; mà Đỗ Quỳnh Dao gọi là &lt;em&gt;tuổi khó&lt;/em&gt;. Rồi tuổi trung niên, tuổi già, mỗi người, mỗi chặng đường đời đều có những khủng hoảng, những tai biến, những vết thương tinh thần, ngoài bệnh tình thể xác. Ống nghe tim mạch của người thầy thuốc nhạy cảm này, đã nắm bắt được phần tâm thần khép kín của những người muốn giấu nỗi đau, hoặc không thể thổ lộ với ai, riết rồi cũng không biết là mình đang đau, đang sống trong rạn vỡ thể xác và tâm hồn.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/tdanh00/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/tdanh00/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;người-đi-tìm-nhân-vật&#34;&gt;người đi tìm nhân vật&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;Mười năm. Kể từ truyện ngắn &lt;em&gt;Bước qua lời nguyền&lt;/em&gt; viết tại Sông Đà tháng 4 năm 1989, đến truyện dài &lt;em&gt;Lão Khổ&lt;/em&gt; (1992) rồi tiểu thuyết &lt;em&gt;Đi tìm nhân vật&lt;/em&gt; (hoàn tất năm 1999). Mười năm. Tạ Duy Anh đã phát triển hai luận đề chính trong tiểu thuyết của mình: &lt;em&gt;lời nguyền và tội ác&lt;/em&gt;, bằng những hướng khác nhau trong bút pháp cũng như trong cách biến thiên nhân vật. Từ lối viết hiện thực phê phán xã hội ở hai tác phẩm đầu, Tạ đã tiến tới lối viết đa âm trong &lt;em&gt;Đi tìm nhân vật&lt;/em&gt; (nxb. &lt;em&gt;Văn Hóa&lt;/em&gt; &lt;em&gt;Dân Tộc,&lt;/em&gt; 2002; Tiếng Quê Hương tái bản tại Hoa Kỳ, 2003). Tác phẩm bị khai trừ ngay khi nó chào đời cùng với cuốn hồi ký &lt;em&gt;Nhớ lại&lt;/em&gt; của Bùi Xuân Quý.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Hoạ trường Lê Bá Đảng</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/lebadang00/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 1997 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/lebadang00/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Ðể thực hành quan điểm bình dân hóa và phổ biến hóa nghệ thuật của mình, Lê Bá Đảng luôn luôn tìm cách bội phân tác phẩm thành nhiều phiên bản, giá bán rẻ đi nhưng chất sắc và giá trị vẫn y như nguyên tác. Với &lt;em&gt;Lebadangraphy&lt;/em&gt;, thập niên 70, ông chế tạo một thứ giấy riêng để in tranh từ những bản khắc trên đá, khiến tranh in của ông không chỉ là những phiên bản (reproduction) phẳng lì mà giữ trọn chiều sâu, nét gồ, nét trũng như những bức tranh thật.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Dương Nghiễm Mậu, con người nội soi trong bạo lực chiến tranh và thân phận nhược tiểu</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/dnmau01/</link>
				<pubDate>Thu, 01 Jan 2004 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/dnmau01/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;con-người-nội-soi-trong-bạo-lực-chiến-tranh&#34;&gt;con người nội soi trong bạo lực chiến tranh&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;h2 id=&#34;và-thân-phận-nhược-tiểu&#34;&gt;và thân phận nhược tiểu&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Tiểu sử&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn .&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Thi pháp Nguyễn Tuân</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/nguyentuan/</link>
				<pubDate>Wed, 01 Jan 2003 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/nguyentuan/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;tiểu-sử&#34;&gt;Tiểu sử&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Nguyễn Tuân, sinh ngày 10-7-1910 tại phố Hàng Bạc, mất tại Hà Nội ngày 28-7-1987.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&#xA;&lt;/blockquote&gt;&#xA;&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Học tiểu học ở Hà Nội, trung học Nam Định. Năm 1927, về Hà Nội cưới cô Vũ Thị Tuệ, nhưng vẫn trọ học ở Nam Định. 1928, đang học năm thứ tư trường Thành Chung, vì tham gia bãi khoá, bị đuổi, Nguyễn Tuân cùng các bạn chạy qua Lào, sang Thái, nhưng bị bắt, giam tại Thanh Hóa khoảng một năm. Ra tù (1931-1936) thường đi đi về về giữa Hà Nội-Thanh Hoá, làm nhiều nghề và bắt đầu viết văn làm báo. Viết cho các tờ Đông Tây, An Nam tạp chí (của Tản Đà), Tiểu thuyết thứ bảy, v.v... Từ 1937, ông ở hẳn Hà Nội và sống bằng ngòi bút. Đầu năm 38, Nguyễn Tuân đi Hương Cảng để đóng một vai phụ trong phim Cánh đồng ma (phim nói tiếng Việt đầu tiên). Khi trở về, ông viết một loạt bút ký về chuyến đi này, sau gộp lại trong tập du ký Một chuyến đi (Tân Dân, Hà Nội, 1941). 1939-1943 là thời kỳ ông sáng tác mạnh nhất:1939, viết một loạt truyện ngắn đăng trên Tao Đàn và Tiểu thuyết thứ bảy, sau in lại trong Vang bóng một thời (Tân Dân, 1940); loạt phóng sự về thuốc phiện trong Ngọn đèn dầu lạc (Mai Lĩnh, 1939). 1940, ông viết tập tự truyện Thiếu quê hương (Anh Hoa, 1943); truyện vừa Nhà bác Nguyễn, sau gom lại cùng 6 truyện ngắn khác, thành tập tự truyện Nguyễn, (Thời Đại, 1945). Năm 1941, Nguyễn Tuân viết tiếp phóng sự Tàn đèn dầu lạc (Mai Lĩnh, 1941), tự truyện Chiếc lư đồng mắt cua (Hàn Thuyên, 1941) và Tùy bút I (Cộng Lực, 1941). Năm 1943, in Tùy Bút II (Lượm lúa vàng, 1943) và tác phẩm Tóc chị Hoài, (Lượm lúa vàng, 1943) tuy gọi là tùy bút, nhưng thật ra là một tiểu thuyết cách tân; đồng thời viết loạt truyện ngắn huyền hoặc mà ông gọi là Yêu ngôn, đăng trên Thanh Nghị và Trung bắc chủ nhật (Nguyễn Đăng Mạnh sưu tập và cho xuất bản năm 1999). Từ 1944, trừ tùy bút Võng ngô đồng, Nguyễn Tuân viết ít hẳn đi...1945, Cách Mạng Tháng Tám bùng nổ, ban đầu ông không tham dự, nhưng viết bài Vô đề sau đổi thành Lột xác ghi lại những trăn trở, xâu xé của mình trước quyết định phải đổi hướng.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Phạm Hải Anh, Huyết đằng</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/phanh00/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 2002 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/song-tu-truong-3/phanh00/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Phạm Hải Anh là một trường hợp đáng chú ý: dung mạo văn học tuy có vẻ như chưa thật sự định hình, nhưng đã có những nét chấm phá rất rõ. Phạm Hải Anh có thể xoay từ thực tại này sang thực tại khác, từ nhân vật này sang nhân vật khác, khá dễ dàng: nếu là diễn viên, Hải Anh có khả năng đóng nhiều vai &amp;quot;tuồng&amp;quot; khác nhau.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
	</channel>
</rss>
