Ngô Thế Tân nói về Lê Thị Lựu và các bạn họa sĩ ở Pháp: Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Mai Thứ
Ngô Thế Tân nói về Lê Thị Lựu và các bạn họa sĩ ở Pháp: Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Mai Thứ
Nhân dịp kỷ niệm giỗ thứ ba họa sĩ Lê Thị Lựu, chúng tôi phỏng vấn ông Ngô Thế Tân, về những kỷ niệm xưa với bà Lê Thị Lựu. Câu chuyện miên man dẫn đến những người bạn họa sĩ của bà, đến thời hàn vi sống trên đất Pháp của họ... Tất cả những chi tiết này đều đóng góp vào việc tìm hiểu cuộc sống của các họa sĩ bên trời Tây.
Chương trình được phát thanh trên đài RFI ngày 9/6/1991. Bản in dưới đây do ông Ngô Thế Tân viết lại, lời lẽ có hơi khác so với bản đã phát thanh, tuy cùng một nội dung. TK
Thụy Khuê: Thưa ông, xin ông cho biết ông đã quen với hoạ sĩ Lê Thị Lựu trong hoàn cảnh nào?
Ngô Thế Tân: Tôi gặp Lê Thị Lựu vào quãng 1933 trong gia đình Hướng Đạo. Lựu làm trưởng bầy sói con Trứng Rồng, tôi làm Đoàn trưởng Hùng Vương. Trâu Mơ Mộng tức Trần Duy Hưng, sau này làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội, cố tình chắp nối mối lương duyên chúng tôi.
TK: Là một trong những người phụ nữ đầu tiên học ngành hội hoạ, bà có kể cho ông nghe thời đó đi học có những khó khăn gì không?
NTT: Lựu học khóa thứ 3 Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Tốt nghiệp năm 1932. Hồi đó tôi chưa quen song thường được nghe Lựu kể lại cách sinh hoạt ở trường và những điêu đứng của một người con gái học mỹ thuật cách đây 60 năm về trước.
Trở lực đầu tiên là do giáo dục đạo đức Nho phong. Cụ ông dù theo Tây học nhưng vẫn giữ nếp cổ, bốn cô con gái bắt phải để tóc dài, nhuộm răng đen, vận quần thâm (mãi sau khi lấy chồng, Lựu mới cạo răng trắng và mang y phục tân thời). Nhưng khi vào thực tập ở trường có môn vẽ khoả thân, với mọi chi tiết về hình thái học, Lựu phải đứng trước một người đàn ông khỏa thân, vẽ từng thớ thịt, lồng bóng từ đường gân người đó trên bức họa. Người mẫu lấy ở trong khám vì thời đó không ai chịu làm mẫu khoả thân.
Thử thách thứ hai là về quan hệ hàng ngày cùng các bạn trai ở trường. Nói chung các bạn cũng tốt, nhưng cũng có những phần tử ghen ghét, đố kỵ, có những cử chỉ tồi tệ nhất là khi mình lại đứng đầu lớp. Có khi vẽ xong, tranh để ở trường, sáng sau thấy có người bạn đã lấy dao rạch tranh tréo nách, hoặc bôi xóa toàn phần. Có một vài cô như cô X ở phố Hàng Bồ, học được mấy ngày rồi bà mẹ bắt bỏ học.
TK: Lý do gì đã khiến ông bà quyết định sang Pháp, cuối năm 1939, đầu năm 1940, là thời điểm gay go, đại chiến thứ hai đã bùng nổ?
NTT: Hồi đó thanh niên nào cũng ít nhiều mang ước vọng được qua Pháp, nhất là trong giới sinh viên, học sinh, trí thức, nói chung và họa sĩ nói riêng, vì học hội họa Âu Tây mà không được tiếp cận với trường phái Paris thì cảm thấy khiếm khuyết vô cùng. Lựu mang hi vọng sang Pháp để được tiếp xúc với trường phái Paris. Ngoài ra, ở Paris đã có ba anh bạn cùng trường: Vũ Cao Đàm, Lê Phổ và Mai Trung Thứ. Anh Đàm được học bổng để đi tu nghiệp điêu khắc. Anh Phổ được giáo sư Tardieu cử làm đại diện Đông Dương trong cuộc đấu xảo. Còn anh Thứ bỏ chức giáo sư ở Huế để qua Pháp. Muốn đi, thường phải xin được học bổng. Mà học bổng thường dành cho con nhà quyến thế. Nếu không phải là nhà cự phú mới tự túc được. Lựu không ở trong những trường hợp ấy. Lựu theo chồng sang Pháp. Lúc đó tôi được bổ dụng sang Pháp, công tác ở các phòng thực nghiệm về thế phẩm (erzatz) để thay thế những chuyên gia bản xứ phải ra tiền tuyến. Khi ấy chiến tranh đang khốc liệt, một số bạn bè cho là ra đi không phải lúc. Nhưng nếu không có chiến tranh thì làm sao có dịp xuất ngoại? Vả lại chúng tôi chỉ tính đi có sáu tháng, một năm sẽ trở về.
Không may đến Paris vừa đúng lúc nước Pháp bị xâm chiếm, các hoạt động nghệ thuật đều đinh chỉ, rồi Lựu lại có thai. Chúng tôi sống trong chiến tranh, cùng chia sẻ với dân sở tại. Hy vọng gặp các bạn cũ cùng trường như Đàm, Phổ, Thứ, thì các bạn đó cũng đều bị chiến tranh phân tán, không ai có mặt ở Paris.
TK: Tới Paris gặp đúng lúc chiến tranh bùng nổ, mọi chuyện bị ngưng đọng trong một thời gian. Trong điều kiện nào bà đã trở lại với hội họa?
NTT: Như trên tôi vừa nói, năm 1940 tới Paris thì mấy ngày sau Paris bị Đức chiếm đóng. Năm 1941 định về nước thì không còn tầu về. Năm 1942 chúng tôi phải đi Phi Châu, đến năm 1945 mới quay trở lại Pháp.
Phần bận con, phần trong sinh hoạt gặp đầy khó khăn vì nước nhà mở chiến dịch chống thực dân Pháp nên mãi đến khoảng năm 19601 Lựu mới cầm bút vẽ lại, nghỉ lâu cũng chính là thiếu tin tưởng về nghệ thuật, bút pháp của mình. Học cổ điển, bút pháp cũng cổ điển nên khi thấy trường phái Paris đi vào bước ngoặc quá sức tưởng tượng, nào trừu tượng, nào lập thể, nào siêu thực... Lựu chóng mặt, mất lòng tin ở tài ba của mình.
May về sau tìm được mối gỡ nút tức là vẽ theo quan niệm hội họa của bản thân mình. Chân thật với khái niệm cùng bản năng của mình. Lựu không sao vẽ được một người phụ nữ mắt như con cá rô nằm trên đỉnh trán được, hay mũi như mũi sư tử, nét bút càng nguệch ngoạc càng được tôn sùng. Thiếu nữ của Lựu phải có sắc, phải duyên dáng; một bà mẹ phải hiền hậu, nhu mì lộ trên nét mặt; thiếu nhi khôi ngô, tuấn tú, điển hình cho lý tưởng hoàn mỹ.
Khoảng năm 1960 mới quay lại làm việc đều đều. Khởi đầu vẽ ba bức trên nền lụa, bầy bán ở cuộc triển lãm chung của Hội Liên hiệp Phụ nữ Hội họa và Điêu khắc (Union des Femmes Peintres et Sculpteurs). Ngay buổi khai mạc, hai bức đã có người Mỹ mua, ban Giám Đốc lại tặng ngay giải nhất (Premier Prix) và được bầu ngay là thành viên của hội (sociétaire). Kết quả này đã gây nhiều tin tưởng phấn khởi. Còn bức thứ ba được chủ hiệu tranh (galerie) ở phố Faubourg Saint Honoré mua. Hiệu tranh này, từ đây trở thành nơi bày các họa phẩm sáng tác ra. Nhưng thực ra Lựu sáng tác rất ít, lúc nào cũng nợ tranh người đặt trước.
TK: Thưa ông, ông có thể cho biết về tình cảnh của ba họa sĩ Vũ Cao Đàm, Lê Phổ và Mai Thứ, trong thời điểm đó ra sao không?
NTT: Lựu có ba người bạn họa sĩ, qua Pháp trước Lựu là Vũ Cao Đàm, Lê Phổ và Mai Trung Thứ. Sang Pháp, cả ba anh đề thuê xưởng vẽ ở phố Alphonse Bertillon. Nhưng khi chúng tôi đến Paris năm 1940, xưởng đều vắng bóng cả ba. Chiến tranh đã phân tán. Mãi đến năm 1942 mới gặp lại Đàm ở Paris, Phổ và Thứ ở Nice.
Tình thế nước Pháp lúc đó rất xáo trộn. Hội họa chưa khai thông, nên cả ba đều phải làm nghề phụ để mưu sống. Đàm khéo tay làm nghề gọt rũa móng chân, móng tay (pédicure chinoise). Phổ và Thứ được thuê lên sân khấu, khăn đóng áo dài... Kể ra như vậy, song đó chỉ là những trường hợp nhất thời trong một giai đoạn ngắn.
Cả ba sau này sáng tác đều, tổ chức triển lãm chung ở nhiều nơi. Casablanca, Alger, Genève, Nice, Paris, Vichy,... Mấy chục năm gần đây, Đàm và Phổ ký hợp đồng độc quyền bán tranh cho Galerie Findlay, một hiệu tranh lớn vào bậc nhất ở Hoa Kỳ.
Tôi nói qua về sự nghiệp của các anh ấy:
Vũ Cao Đàm tốt nghiệp thủ khoa điêu khắc. Được học bổng qua tu nghiệp ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Paris. Ở Ký Túc Xá Đông Dương, đồng thời với chị Bình, nữ dược sĩ đầu tiên và anh Hoàng Xuân Hãn. Chắc Thụy Khuê cũng biết chị Bình sau này là bà Hoàng Xuân Hãn. Đàm đã nặn tượng Vua Bảo Đại và tạc tượng Hồ Chí Minh. Tượng này có một bản đúc đồng hiện còn ở nhà anh Nguyễn Kim Hồng.
Sau này Đàm gần như bỏ hẳn điêu khắc để sáng tác hội họa. Về môn này Đàm luôn luôn tìm kiếm về bút pháp, họa chất, chất liệu. Đề tài rất phong phú. Nói chung tranh lụa của Đàm đượm vẻ cổ kính ngàn xưa, tranh sơn dầu bối cảnh xưa nhưng màu sắc tân kỳ.
Hiện nay [1991], Đàm và Lê Phổ đều cao tuổi cả rồi (84, 85 tuổi) nhưng vẫn sáng tác mỗi ngày vài giờ. Tranh của Phổ có thể sắc trang trí, có thể nói là Phổ chuyên vẽ hoa. Các thiếu nữ đẹp nhưng cứng, kém uyển chuyển, duyên dáng. Hai màu vàng và xanh lá cây tràn đầy khiến người ta liên tưởng tới Bonnard hay Legueult.
Còn Mai Thứ, tên thực là Mai Trung Thứ, tức Thày Thử, hay Ông Đốc Thử, khi được bổ nhiệm giáo sư ở Huế, giọng Huế gọi như vậy. Ở đất sông Hương núi Ngự, Thứ là một tài nhân trẻ, khiến nhiều nữ sinh, cả các mệ ở đó, và một số tiểu thư Sài Gòn nữa, ôm hận vì ước vọng không thành. Thày Thử vẽ giỏi lại đờn hay. Có xe hơi trên bộ và du thuyền trên Hương Giang. Anh bạn Mai Thứ của tôi mất quãng 10 năm nay rồi, mang theo trong lòng biết bao trang tình sử tuyệt vời và tuyệt vọng, nhưng anh rất chung thủy với tình xưa, nghĩa cũ.
Ngoài hội họa anh còn làm phim. Anh đã tác tạo mấy bộ phim về kỹ thuật tranh lụa. Năm 1946 chính anh đã dựng cuốn phim ghi các hoạt động của Hồ Chí Minh trong thời kỳ đàm phán ở Pháp.
Anh được nhiều người biết đến vì có một số tranh do nhà Braun in bán khắp nơi: Trẻ ngây thơ ngồi xung quanh nghe thày đồ giảng dạy, hay tung tăng chạy đùa trong sân trường... Unicef cũng phát hàng một thiếp "em nhỏ ngủ say". Về bút pháp, tôi thường nói đùa tranh anh là một tổng hợp chỉ có phần nửa bút pháp cá biệt của anh, một phần bốn Tàu và phần trót Ba Tư (Perse) hay Ấn Độ. Nhân vật trong tranh đượm vẻ ngây thơ nên nhiều nhà phê bình Pháp liệt anh vào loại tranh ngây ngô (naïf).
Cuộc triển lãm cuối cùng của anh ở Galerie Vendôme có tới 50 bức. Về mặt lý tài kết quả rất khả quan, tranh bán gần hết. Chỉ buồn tiếc là trong những ngày đêm bố trí cuộc triển lãm này, anh đã không quan tâm đến hơi sức anh, nên sau đó mấy tháng anh đã vào cõi hư vô để lại tíếc thương cho mấy người bạn họa sĩ cùng lớp tuổi. [Họa sĩ Mai Thứ từ trần tại Paris tháng 10/1980].
TK: Ông là họa sĩ nghiệp dư và ông biết rõ về hội họa của bà hơn ai hết, vậy ông có thể cho một "kết toán" về phẩm cũng như về lượng các tác phẩm của bà. Tựu trung cả đời bà vẽ khoảng bao nhiêu bức tranh?
NTT: Lựu tuy vẽ ít vì những lý do đã kể, nhưng đều tay và thể hiện một biệt tài. Ngay thời sinh viên đã được ông đốc trường nhận ra đặc tài đó nên luôn luôn ông cử làm trợ giáo giúp các bạn đồng khóa. Tranh ngay khi mới phác họa đã có những nét mạnh bạo, linh động như của các họa sư (maîtres). Tiếc là đến giai đoạn cuối của tranh, Lựu thường mang thêm nhiều chi tiết làm yếu đi đôi chút. Có nhiều tác phẩm ông đốc cho là có bút pháp Cézanne. Ở thời trẻ, có những bức tranh lụa mang phong cách như Modigliani. Thời cuối, một số tranh mang hình thái Renoir: nhân vật đầy trìu mến sinh hoạt trong cỏ hoa, phong cảnh lung linh dưới ánh nắng vàng.
Nhiều tranh bán đi rồi lại tiếc. Tiếc như đã bán một đứa con, rồi tìm cách mua lại. Chẳng hạn bức Ba mẹ con ngồi khâu giữa bồn hoa, đã bán cho ông M. để ông tặng vợ ngày sinh nhật; bức Thiếu nữ đánh đàn thập lục đã bán cho bà Phó giám đốc nhà Printemps, bức Thiếu nữ áo trắng hứng gió bờ hồ... Còn nhiều bức bán qua galerie nên không biết đã về đâu.
Ngoài các tranh Lựu còn vẽ một số chân dung. Đủ loại: phấn mầu, lụa, sơn dầu, chì đen, chì son (sanguine). Tôi nhớ đại khái:
Chân dung Cô Vân, con gái ông Nguyễn Văn Vĩnh, phấn màu.
Chân dung Cụ Hai (người trong họ) sơn dầu.
Chân dung bà toàn quyền Robin, sơn dầu.
Chân dung cháu trai ông bà Sainteny, lụa.
Chân dung Lê Tất Luyện, sơn dầu.
Chân dung Thục Diễm, lụa
Chân dung Anh Trần, điêu khắc gia, lụa.
Lựu vẽ chân dung đặc biệt giống mà còn trẻ đẹp hơn thật nên thường được chuộng.
Thụy Khuê hỏi số tranh sáng tác, tôi không sao trả lời chính xác được vì vẽ xong là bán ngay, không bao giờ có một số lượng đủ để làm triển lãm riêng cả. Lúc nào cũng nợ tranh người ta đặt trước, có khi hàng mấy năm. Tiếc không chụp hình để lại vì Lựu không bao giờ nghĩ đến việc sẽ in sách. Nhưng phỏng độ 200, 300 bức thôi.
Lựu đã sáng tác đến những ngày cuối cuộc đời. Hai bức cuối mang đề tài Thiếu nữ gảy đàn tỳ bà và Tam đại đồng đường.
TK: Trong gia đình bà là người như thế nào? Những hình ảnh nào sâu xa nhất, ông còn giữ được về người vợ quá cố?
NTT: Chúng tôi đã chung sống từ năm 1934 đến 1988 tức hơn nửa thế kỷ, trong sự tôn trọng lẫn nhau. Có thể nói tôi là người đã khuyến khích Lê Thị Lựu trong những thời gian kém tin tưởng về nghệ thuật, tài năng của mình. Lê Thị Lựu quán xuyến công việc nội trợ với trình độ một người Âu có kiến thức tiền tiến. Sạch, quá sạch. Kỹ tính. Ngăn nắp. Không ưa nấu ăn nhưng rồi làm bếp vào bậc khéo. Món ăn ta, tầu, Tây, do các bạn cho công thức đều được ghi chép, thực hành, điều chỉnh với cân lạng chính xác trong liều lượng mắm muối. Rảnh rang thì đọc sách, xem kiếm hiệp. Không bao giờ ngồi lê đôi mách, lãng phí thì giờ hay đàn đúm cờ bạc, bê tha. Điểm lạ là ưa tác phong nam hơn nữ nên có nhiều bạn trai hơn.
Đó là nói qua về mặt vật chất trong gia đình, còn về mặt đạo đức, sinh ra trong một gia đình cổ: con gái để tóc dài, vấn khăn, nhuộm răng đen, mặc quần vải thâm. Mãi đến khi xuất giá mới cắt tóc ngắn, cạo răng trắng. Nhưng không phải vì thế mà Lê Thị Lựu là một phụ nữ lạc hậu, ích kỷ, lỗi thời. Quan niệm về quan hệ giữa mình với gia đình, bố mẹ, các em, hay chồng con, bạn bè rất đúng mức và tiến bộ. Với bố mẹ có tình cảm chân thành, hiếu đễ, với các em cởi mở, khoan dung và rộng rãi.
Trong tiểu gia đình chúng tôi, vui buồn, thừa thiếu, hạnh phúc chia sẻ đồng đều. Chia đều mọi công việc nặng nhọc hay khó khăn. Coi vợ chồng là một đơn vị không tách rời ra được.
TK: Bà mất đến nay đã ba năm, ông có nghĩ đến việc một lúc nào đó, sẽ đưa tranh của bà về viện bảo tàng ở Việt Nam không?
NTT: Việc đưa tranh của Lựu vào viện bảo tàng, tôi chưa chủ trương được. Một ngày nào đó, nước ta dân chủ hóa và bảo tàng có ý yêu cầu thì ngày đó sẽ tính sau. Hiện giờ bảo tàng do Hội Mỹ Thuật Hà Nội quản lý đã được Lựu biếu một bức tranh lụa nhỏ rồi. Nhưng xem ra những tranh của các họa sĩ Việt Nam tại Pháp như Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Mai Thứ, với những đề tài không "công nông" không được Hội Mỹ Thuật Hà Nội trưng mua.
Cách đây mấy chục năm, khi người Việt tha hương đang hăng say tranh đấu cho độc lập ở quê nhà, chưa có xáo trộn tố khổ ở thôn quê và tố tư sản ở thành thị, anh Vũ Cao Đàm có ý chuẩn bị một số tranh -Pháp có, Việt có- để đưa về làm hạt nhân khai sinh cho bảo tàng Mỹ Thuật tân thời Hà Nội. Sau xem ra chưa đúng lúc. Theo tư duy của tôi, hội họa hay văn chương, sáng tác ra phải có một vị trí tiên phong, làm đầu tầu dìu dắt quần chúng, chứ không phải như Hồ Chí Minh đã nói "tác phẩm phải được toàn dân ưa thích". Nhân dân chưa tiến về nghệ thuật cao đẳng thì đã có tranh dân gian để thưởng thức rồi!
TK: Xin thành thực cảm ơn ông.
© 2018 Thụy Khuê
Thực ra, năm 1960 là năm Lê Thị Lựu xây dựng xong đường lối hội hoạ của mình. Bà bắt đầu tìm kiếm từ năm 1954 với bức Nhị Kiều. Đến năm 1956, nhân dịp ông về nước làm việc, bà đã quyết định trở lại với hội họa. Xem bài Mộng Trung phỏng vấn Lê Thị Lựu. ↩︎