Danh sách họa sĩ tốt nghiệp ba khoá đầu trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương

Danh sách họa sĩ tốt nghiệp ba khoá đầu trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương

Như ta đã biết: Năm 1925, họa sĩ Victor Tardieu (1870-1937) sáng lập Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương theo nghị định của toàn quyền Merlin ngày 27-10-1924, với mục đích đào tạo nghệ sĩ, giáo sư cho hai ngành:

  • Hội Họa (gồm cả Điêu Khắc và Trang Trí).

  • Và Kiến trúc.

Lịch sử trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương đã có nhiều người viết, đặc biệt chuyên luận của họa sĩ Quang Phòng (1924-2013) trong cuốn Các Hoạ Sĩ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, do nhà xuất bản Mỹ Thuật Hà Nội in năm 1997. Danh sách những họa sĩ tốt nghiệp ba khoá đầu tiên của trường, được ghi lại trong cuốn Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990 (NXB Mỹ Thuật, 1990). Ở đây, chúng tôi xin ghi lại những chi tiết thu thập được trong các buổi nói chuyện với hai họa sĩ, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ và ông Ngô Thế Tân, để độc giả có thêm những dữ kiện khác về trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, dưới cái nhìn của một người cùng thời và của hai họa sĩ tiên phong, tốt nghiệp khoá đầu và khoá thứ hai của trường. Những thông tin này có thể bổ sung và điều chỉnh những sai lầm, nếu có, vì do chính người đương thời hoặc đã tham dự, thuật lại.

Quy chế của trường Mỹ Thuật Đông Dương

Theo ghi chép của ông Ngô Thế Tân: Mỗi khóa học 5 năm, ban Hội Họa (Điêu Khắc và Trang Trí) với 40 sinh viên, ban Kiến Trúc 30 người. Hàng năm trường mở kỳ thi tuyển trong toàn cõi Đông Dương, vào mùa hè, ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Phnom-Penh và Vientiane. Các bài thi tuyển chung cho hai ngành là cùng một chương trình, gồm có:

a/ Bài luận Pháp văn, ai không đủ điểm bị loại nhưng không dùng bài luận này để xếp hạng.

b/ Một bức họa trang trí, theo chủ đề, vẽ trong một buổi, 8 giờ.

c/ Một bức vẻ theo mẫu sinh động, thể hiện trong 6 buổi, mỗi buổi 3 giờ.

d/ Một bức viễn họa (perspective) sơ lược, trong 4 giờ.

Các bài này đều niêm phong, gửi về chấm ở Hà Nội.

Mỗi khóa có chừng 60 đến 100 thí sinh, nhưng chỉ có 8 thí sinh đỗ đầu được nhận làm sinh viên.

Mỗi ngày, các sinh viên học từ 7 đến 11 giờ sáng, rồi từ 13 đến 18 giờ chiều, rồi từ 20 đến 22 giờ thực tập ở xưởng hay tham khảo trong thư viện.

Sinh viên lên lớp theo điểm trung bình hàng năm. Tốt nghiệp ra trường cũng theo quy cách đó, tức là xếp thứ bậc theo tổng số điểm của 5 năm học, cộng thêm nhưng điểm về giá trị nghệ thuật của những sáng tác trong hai năm cuối. Cũng vì cách tuyển lựa đó nên nhiều người bị loại, không học đến năm cuối cùng.

Mỗi khóa, 5 năm chia làm hai cấp. Cấp 1, hai năm đầu, học về đại cương tạo hình, về sáng tác tranh sơn dầu, tranh lụa, tranh tường (fresque), sơn ta, khắc gỗ, tạc đá, làm đồ mộc, đồ gốm, đồ sắt uốn, đồ thêu, dệt thảm, đăng ten (dentelle) và đóng sách. Mục đích của trường là đào tạo nghệ sĩ kiêm giáo sư. Giáo sư cho các trường trung học hay các lớp tu nghiệp buổi tối dành cho các nghệ nhân để họ cải tiến ngành thủ công nghiệp.1

Vai trò của họa sĩ Nam Sơn

Hiện nay, một số bài viết về họa sĩ Nam Sơn được phổ biến trên Internet và Wiképidéa tiếng Việt, có khuynh hướng đề cao vai trò của họa sĩ Nam Sơn như người sáng lập ra trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương cùng với hoạ sĩ Tardieu. Và có chỗ còn ghi ông là giáo sư của trường trong vòng 20 năm (1925-1945) đã đào tạo nên những họa sĩ như: Lê Phổ, Mai Thứ, Nguyễn Phan Chánh...

Khi thực hiện cuốn sách này, chúng tôi đọc kỹ những lời họa sĩ Lê Phổ trả lời phỏng vấn của chúng tôi ngày 3/3/1993, thì lại thấy có những điểm rất đáng lưu ý, sau đây:

"- Bác còn nhớ những bạn học cùng lớp cũ không?

- Cùng lớp hồi đó có Nam Sơn*, nhưng anh ấy không phải là học trò như chúng tôi, anh ấy quen ông Tardieu trước chúng tôi. Nguyễn Phan Chánh lớn tuổi nhất bọn, anh ấy nhà Nho, tốt bụng, tôi quý mến lắm. Anh Chánh thường bị mấy tay trẻ chòng ghẹo. Lê Văn Đệ mới mất cách đây mấy năm, và ba chúng tôi: Đàm, Thứ và tôi.*

- Bác Đàm học sau bác một năm?

- Phải đấy. Đàm học cùng lớp với Tô Ngọc Vân. Mai Thứ luôn luôn đi với tôi.

- Lúc ấy lớp bác hình như có 10 người cơ mà?

- Ờ, còn Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Tam hồi đó cũng bồ lắm. Tường Tam viết văn. Tóm lại là có Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê Văn Đệ -tôi có gặp Đệ một lần ở Pháp- Mai Thứ và tôi. Còn những người khác tôi không nhớ.

- Trong những người học cùng với bác ai vẽ hay nhất?

- Mai Thứ. Mai Thứ tài lắm.

- Thế còn Tô Ngọc Vân?

- Tô Ngọc Vân học sau một lớp. Vân cũng tài lắm. Rất bồ với tôi và Tường Tam.

- Còn Nguyễn Gia Trí?

- Nguyễn Gia Trí vẽ giỏi lắm. Trí vẽ tranh sơn mài rất đẹp. Tôi cũng có vẽ sơn mài. Trí học cùng lớp với Lựu. Lựu rất dễ thương, vẽ rất hay. Lựu vẽ những dessin thật đẹp".2

Trích đoạn trên đây, có những thông tin quý giá, khó tìm thấy ở đâu, trước hết về Nam Sơn:

  • Lê Phổ nói: "Cùng lớp hồi đó có Nam Sơn*, nhưng anh ấy không phải là học trò như chúng tôi, anh ấy quen ông Tardieu trước chúng tôi".* Có nghiã là Nam Sơn học cùng lớp với Lê Phổ, nhưng là học trò đặc biệt vì quen với Tardieu từ trước. Lê Phổ còn nhắc lại một lần nữa: "Tóm lại là có Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê Văn Đệ -tôi có gặp Đệ một lần ở Pháp- Mai Thứ và tôi. Còn những người khác tôi không nhớ." Như vậy Lê Phổ đã xác định hai lần: Nam Sơn học cùng Khoá I với ông. Vì vậy, khó có chuyện Nam Sơn dạy ở trường từ năm 1925.

Không chỉ có họa sĩ Lê Phổ nhớ đến Nam Sơn, mà cả Nhất Linh cũng viết như thế, từ năm 1933. Mới đây vì phải tìm kiếm tài liệu về Nhất Linh, tình cờ tôi đọc được bài báo của Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) viết về Mỹ thuật, ký tên Đông Sơn (Nhất Linh, trên Phong Hoá khi vẽ ký tên Đông Sơn). Bài này tựa đề Nguyễn Phan Chánh, in trong mục Mỹ thuật trên báo Phong Hoá số 34, ra ngày 17 -2-1933, mở đầu bằng câu:

"Ông Nguyễn Phan Chánh tốt nghiệp ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật ra năm đầu; trong bọn hoạ sĩ cùng học một trường*, ông là một người trong những người xuất sắc nhất, danh tiếng ông cũng như danh tiếng ông Nam Sơn và ông Lê Phổ đã lan rộng sang tận bên Pháp."*

Như vậy Nhất Linh cũng xác nhận Nguyễn Phan Chánh, Nam Sơn và Lê Phổ là ba học trò xuất sắc nhất của trường3.

  • Trong cuốn Trois Ecoles d'Art de L'Indochine Hanoi- Phnom-Penh- Bien Hoa (Ba Trường Mỹ Thuật Đông Dương Hà Nội Nam Vang và Biên Hoà) do Tổng Giám Đốc Nha Học Chính (Direction Générale de l'Instruction Publique) xuất bản (Imprimerie d'Extrême Orient, Hà Nội, 1931) nhân dịp Triển lãm Quốc tế Thuộc địa ở Paris năm 1931. Trang 14 có một đoạn nói về Nam Sơn như sau:

"Lớp dự bị này, thành lập theo nghị định ngày 24/10/1927, được giao cho một giáo viên kỹ thuật về Nghệ thuật trang trí, người An Nam, ông Nam Sơn, cựu học sinh trường Mỹ Thuật Paris và trường Trang Trí, mới đầu được mượn với tư cách hướng dẫn viên" (Ce cours préparatoire, fondé par l'arrêté du 24 Octobre 1927, a été confié à un professeur technique annamite des Arts décoratifs, M. Nam Sơn, ancien élève de l'École des Beaux-Arts de Paris et l'Ecole des Arts décoratifs, et qui fut employé primitivement en qualité de moniteur).

Câu này cho biết: Năm 1927, khi mở lớp dự bị thi vào Trường Mỹ Thuật Đông Dương, Nam Sơn được bổ nhiệm làm hướng dẫn viên (moniteur) phụ trách lớp này.

Nhưng theo Ngô Thế Tân, thì Lê Thị Lựu đã học lớp dự bị từ năm 1926 (Xem Cuộc đời Lê Thị Lựu). Như vậy, hoặc cuốn Trois Ecoles d'Art de L'Indochine ghi sai, hoặc năm 1926 đã có lớp dự bị nhưng đến năm 1927 mới ký nghị định. Tuy lớp dự bị có từ 1926, nhưng đến năm 1927, Nam Sơn mới phụ trách hướng dẫn.

  • Cuốn Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990, không ghi tên Nam Sơn trong số sinh viên khoá I, nhưng trong danh sách các giáo sư của trường, ghi rõ: Nam Sơn dạy trang trí từ khoá V đến khoá XVIII. Vậy Nam Sơn đã dạy trang trí cho lớp dự bị khoá IV (từ năm 1927). Đến năm 1929, Nam Sơn mới được mời dạy chính thức về trang trí, từ khoá V (1929-1934).

  • Có một câu thường được trích dẫn trong các bài viết về Nam Sơn và trên Wikipédia tiếng Việt: "Chính những người Pháp là những người đầu tiên ghi nhận công lao đóng góp của họa sĩ Nam Sơn. Vị trí và vai trò của ông được Toàn Quyền Đông Dương xác nhận rất rõ ràng trong cuốn "Các trường Mỹ Thuật Đông Dương" xuất bản ở Hà Nội năm 1937: "Ông Nam Sơn- giáo sư chuyên ngành bậc 2, là một trong hai người sáng lập trường Mỹ Thuật Đông Dương, dạy hình họa và trang trí".

  • Cuốn sách nói trên là cuốn Les Écoles d'Art de L' Indochine (Những Trường Mỹ Thuật Đông Dương) do Phủ Toàn Quyền Đông Dương (Gouvernement Général de l'Indochine) xuất bản (Imprimerie d'Extrême Orient, 1937), nhân dịp Triển lãm Quốc tế Mỹ thuật và Kỹ thuật tại Paris năm 1937. Cuộc triển lãm này được tổ chức từ ngày 25/5 đến 25/11/1937 tại Paris. Cũng như lần triển lãm năm 1931, Lê Phổ được giáo sư Tardieu cử làm phụ tá cho ông để đi dự hội chợ đấu xảo này. Nhưng giáo sư Tardieu mất ngày 12/6/1937 tại Hà Nội, vậy có lẽ ông Tardieu đã không đi và Lê Phổ đi thay ông.

Cuốn sách Les Écoles d'Art de L' Indochine viết về năm trường Mỹ thuật ở Đông Dương. Nội dung tương tự như sách Trois Ecoles d'Art de L'Indochine Hanoi- Phnom-Penh- Bien Hoa (Ba Trường Mỹ Thuật Đông Dương Hà Nội Nam Vang và Biên Hoà), in năm 1931. Nhưng năm 1937, quy chế của trường có thay đổi so với năm 1931: học trình 5 năm chia làm 2 cấp:

Cấp 1: Giáo trình đại cương: năm thứ nhất và năm thứ nhì.

Cấp 2: Giáo trình cao đẳng: năm thứ ba, thứ tư và thứ năm.

Những môn dạy trong cấp 1:

1- Hoạ hình: giáo sư Tardieu, Hiệu trưởng.

2- Điêu khắc: giáo sư Georges Khánh.

3- Trang trí: giáo sư Nam Sơn.

4- Kiến trúc và khảo cổ: giáo sư Nguyễn Xuân Phương.

5- Cơ thể học: giáo sư De Finis de Lacombe.

6- Viễn cận: giáo sư Nguyễn Xuân Phương.

7- Lịch sử Mỹ thuật và khảo cổ: Ông Bezacier. (Trang 11)

Như vậy, số môn học do giáo sư người Việt phụ trách, ở thời điểm 1937, cao hơn số môn học do giáo sư người Pháp phụ trách. Giáo sư Victor Tardieu mất ngày 12/6/1937 tại Hà Nội, vậy sự ghi chép của sách này chưa được cập nhật.

Trong phần viết về Nghệ thuật Trang trí, ở trang 16, tác giả (không biết là ai) vinh thăng họa sĩ Nam Sơn:

"Ngành Hình họa và Trang Trí do một giáo sư kỹ thuật hạng hai phụ trách, M. Nam Sơn, là một trong hai người xây dựng nhà trường. Ông đã tạo được những thành quả tốt đẹp trong việc đào tạo và góp phần đắc lực vào việc phục hưng nghệ thuật cổ truyền An Nam" (L'Enseignement du Dessin et des Arts Décoratifs est assuré par un professeur technique de 2e Clase, M. Nam Sơn qui est un des deux fondateurs de l'École. Il a obtenu des résultats remarquables dans son enseignement et contribué pour une large part à la renaissance de l'Art annamite traditionnel).

Câu này có một sai lầm không nhỏ: Ở trên vừa nói Giáo sư Tardieu dậy Hình họa (Cours de dessin d'académie et figure peinte), Georges Khánh dạy điêu khắc, Nam Sơn dạy trang trí, ở dưới lại nói Nam Sơn dạy hình họa và trang trí. Đoạn được trích dẫn nhiều nhất là câu "M. Nam Sơn, là một trong hai người xây dựng nhà trường" lại khá mơ hồ vì không nói rõ người thứ hai là ai. Câu này không do ông Toàn Quyền nào viết như người ta tưởng, mà do tác giả cuốn sách, không biết là ai, viết. Sách do Phủ Toàn Quyền in.

Người viết cho biết: Năm 1937, Nam Sơn là giáo sư kỹ thuật hạng hai (professeur technique de 2e classe), vậy mấy chữ kế tiếp: Nam Sơn là một trong hai người xây dựng nhà trường (un des deux fondateurs) không có nghĩa, chỉ có mục đích vinh danh ông bởi vì ông đã dạy từ trước, từ 10 năm trước, từ 1927, nhưng lúc đó ông chưa là giáo sư. Nếu thật sự Nam Sơn là un des deux fondateurs de l'École nghĩa là từ lúc thành lập Trường, thì năm 1931, cuốn Trois Écoles d'Art de l'Indochine không thể ghi ông được mượn làm moniteur năm 1927.

Tóm lại, những điều chúng ta biết chắc:

  • Lê Phổ xác nhận hai lần: Nam Sơn học cùng lớp với ông, Khoá I. Vậy Nam Sơn không thể dạy khoá I, và đào tạo ra những học trò như Lê Phổ, Mai Thứ, Nguyễn Phan Chánh...

  • Vũ Cao Đàm, trong phần phỏng vấn, có kể tên những giáo sư chính dậy khoá II, gồm: Tardieu dạy hình họa. Inguimberty dạy trang trí và điêu khắc. Batteur dạy kiến trúc. Bác sĩ De Phénix dạy cơ thể học. Vậy Nam Sơn cũng không dạy khoá II.

  • Không thấy Lê Phổ nói đến việc Nam Sơn là người sáng lập ra trường cùng với Tardieu. Vũ Cao Đàm và Lê Thị Lựu cũng không nói gì về việc này. Phần lớn học trò thời ấy đều ghi ơn hai người: Tardieu và Inguimberty.

  • Cuốn Trois Ecoles d'Art de L'Indochine Hanoi- Phnom-Penh- Bien Hoa cho biết: Nam Sơn được mời phụ trách lớp dự bị thi vào trường, về trang trí, từ năm 1927.

  • Cuốn Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990, ghi Nam Sơn dạy trang trí từ khoá V (1929-1934) đến khoá XVIII (1944-1945).

Vì vậy, ta nên thận trọng và cần nghiên cứu lại xem họa sĩ Nam Sơn (1890-1973) có vai trò gì trong việc sáng lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương hay không.

Khi vào trường, năm 1925, ông đã 35 tuổi, đã biết nhiều về hội họa, Nam Sơn hơn Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) hai tuổi, Nguyễn Phan Chánh cũng là họa sĩ nhà nghề trước khi vào trường. Câu Lê Phổ nói: Nam Sơn không phải là học trò như chúng tôi, có thể được hiểu trong hai nghiã:

1- Vì Nam Sơn quen với ông Tardieu nên không phải qua kỳ thi tuyển, và có lẽ đó cũng là lý do khiến Nam Sơn không có tên trong danh sách chính thức học trò Khoá I.

2- Vì Nam Sơn đã là một họa sĩ biết nghề trước khi vào trường, lại lớn tuổi, nên được giáo sư Tardieu coi như trưởng tràng, có thể được giáo sư Tardieu chọn làm phụ tá (như trường hợp Lê Phổ vài năm sau). Có thể Nam Sơn không học hết 5 năm, vì từ khi ông nhận phụ trách lớp dự bị (1927) ông không còn thời gian học tiếp.

3- Câu: "Ngành Hình họa và Trang Trí do một giáo sư kỹ thuật hạng hai, M. Nam Sơn, là một trong hai người xây dựng nhà trường", chưa biết tác giả là ai, có thể là một viên chức trong phủ toàn quyền, lại khá mơ hồ và có một sai lầm khá lớn là Nam Sơn không hề dạy Hình hoạ. Câu này chưa đủ để xác định: Nam Sơn sáng lập ra trường cùng Tardieu hay Nam Sơn là giáo sư từ đầu đã đào tạo nên những học trò như Lê Phổ, Mai Thứ, Nguyễn Phan Chánh.

Họa sĩ Nam Sơn là một tài năng lớn. Nếu ta dùng những bằng chứng mơ hồ để chứng tỏ ông là người sáng lập ra trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương cùng với Tardieu, thì chẳng những không vinh danh ông mà chỉ làm thiệt hại đến tên tuổi của ông và làm sứt mẻ uy tín của giới nghiên cứu Việt Nam.

Chúng ta đừng quên: ở thời điểm ấy, không dễ gì một sinh viên hội họa "indigène" (người bản xứ) lại có thể "góp ý" về việc mở trường Mỹ Thuật ở Thuộc địa, nói chi đến việc sáng lập. Năm 1934, khi Hoàng Xuân Hãn về nước, chỉ vì là người bản xứ, nên ông không được bổ nhiệm chức Kỹ sư, mặc dù ông đã tốt nghiệp hai trường Polytechnique (Bách Khoa) và Ponts et Chaussées (Cầu Cống) ở Pháp.

Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Gia Trí

Nguyễn Tường Tam học khoá đầu, năm 1925. Nhưng ta lại biết: Nguyễn Tường Tam chỉ học đến năm 1926, rồi bỏ vào Nam, định làm báo cùng với Trần Huy Liệu và Vũ Ðình Di, nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh, hai người này bị bắt, Nguyễn Tường Tam trốn được sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ và sau tìm đường đi Pháp du học.4

Theo Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí học cùng lớp với Lê Thị Lựu, khoá III (cuốn Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990 ghi Nguyễn Gia Trí học khoá IV). Nguyễn Gia Trí cho biết ông "đã chán bỏ Trường Mỹ Thuật từ năm thứ ba" nhờ xem triển lãm tranh sơn mài của Trần Quang Trân mới quay trở về học lại. (Xem chú thích số 25 và 26, bài Lê Thị Lưu ấn tượng hoàng hôn). Như vậy ta có thể suy ra: Nguyễn Gia Trí bỏ học năm 1929 (hay 1930), và theo danh sách in trong cuốn Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990, thì Nguyễn Gia Trí tốt nghiệp khoá VII (1931-1936). Vậy ông bỏ học ít nhất hai năm, từ 1929 đến 1931. Việc này giải thích hoạt động đắc lực của Nguyễn Gia Trí trong Tự Lực Văn Đoàn, thời kỳ thành lập báo Phong Hoá.

Đối chiếu danh sách những sinh viên học ba khoá đầu

Sau cùng, chúng tôi xin ghi lại danh sách các họa sĩ đã học, hoặc đã tốt nghiệp ba khoá đầu, theo cuốn Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990, và đối chiếu với những điều mà họa sĩ Lê Phổ và Vũ Cao Đàm nhớ lại và sự ghi chép của ông Ngô Thế Tân.

Khoá I (1925-1930)

Theo sách Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990

Theo Lê Phổ

Hội họa

  1. Nguyễn Tường Tam

  2. Lê Văn Đệ

  3. Mai Trung Thứ

  4. Nguyễn Phan Chánh

  5. Lê Phổ

  6. Georges Khánh

  7. Công Văn Chung

  8. Lê Ang Phan

(hai người không theo học hết khoá là: Nguyễn Tường Tam và Lê Ang Phan)

Nguyễn Nam Sơn

Nguyễn Phan Chánh

Lê Văn Đệ

Mai Thứ

Lê Phổ

Nguyễn Tường Tam (học đến năm thứ hai thì bỏ).

Georges Khánh (Lê Phổ quên không nhắc tên, vì Georges Khánh chuyên về điêu khắc)

Kiến trúc

1- Nguyễn Xuân Phương

2- Lê Quang Tĩnh.

Khóa II (1926-1931)

Theo sách Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990

theo Vũ Cao Đàm

Hội họa

1.Tô Ngọc Vân

  1. Hồ Văn Lái

  2. Đặng Trần Cốc

  3. Đỗ Đức Thuận

5.Thăng Trần Phềnh

  1. Nguyễn Hữu Đẩu

  2. Nguyễn Văn Hồng

  3. Hăm Lét.

Hăm Lét (người Lào) không theo học hết khoá.

Vũ Cao Đàm

Tô Ngọc Vân

Hồ Văn Lái

Nguyễn Văn Đẩu

Đặng Trần Cốc

Lê Tiến Phúc5

Điêu Khắc

  1. Vũ Cao Đàm

  2. Lê Tiến Phúc.

Khoá III (1927-1932)

Theo sách Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990

Theo ông Ngô Thế Tân

Hội họa

1.Trần Quang Trân

  1. Lê Thị Lựu

  2. Phạm Hữu Khánh

  3. Nguyễn Họa Thế

5.Vũ Tiến Chức

  1. Vũ Đăng Bốn

  2. Phạm Ngọc Khâm

  3. Phạm Trần Trung

  4. Nguyễn Cao Luyện

  5. Nguyễn Đình Thần

  6. Tín (không rõ họ).

Có 6 người tốt nghiệp:

  1. Trần Quang Trân

  2. Nguyễn Hoạ Thế

  3. Phạm Hữu Khánh

  4. Vũ Tiến Chức

  5. Vũ Đăng Bốn

  6. Lê Thị Lựu.

Nguyễn Cao Luyện học hết năm thứ nhất, chuyển sang học kiến trúc.

Những người đỗ ra trường xếp theo thứ tự, gồm có:

  1. Lê Thị Lựu

  2. Trần Quang Trân

  3. Phạm Hữu Khánh

  4. Nguyễn Hòa Thế

  5. Vũ Đăng Bốn

  6. Vũ Tiến Chức6.

Ông Ngô Thế Tân phản đối sự xếp hạng những người tốt nghiệp khoá III trong sách Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990: Ghi họa sĩ Lê Thị Lựu đỗ hạng chót trong khi bà đỗ thủ khoa!

Lê Phổ cho rằng Nguyễn Gia Trí học khoá III cùng với Lê Thị Lựu. Sách Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925-1990 ghi Nguyễn Gia Trí học khoá IV (1928-1933) rồi bỏ dở, trở lại học khóa VII (1931-1936).


© 2018 Thụy Khuê


  1. Ông Ngô Thế Tân đã tóm tắt trang 11, cuốn Les Écoles d'Art de L' Indochine (Những Trường Mỹ Thuật Đông Dương) do Phủ Toàn Quyền Đông Dương xuất bản năm 1937. ↩︎

  2. Nói chuyện với họa sĩ Lê Phổ thu thanh ngày 3/3/1993, phát thanh trên đài RFI ngày 7/3/93 và in lại trên tạp chí Hợp Lưu, Hoa Kỳ, số 10, tháng 4 và 5/1993. ↩︎

  3. Thông tin cập nhật ngày 27-4-2020. ↩︎

  4. Theo tiểu sử Nhất Linh do Thụy Khuê soạn in trong bài Nhất Linh. ↩︎

  5. Hoạ sĩ Vũ Cao Đàm đọc cho chúng tôi ghi những chi tiết này nhân cuộc phỏng vấn, phát thanh trên RFI, ngày 24/3/1991. ↩︎

  6. Xem Cuộc đời Lê Thị Lựu. ↩︎