<?xml version="1.0" encoding="utf-8" standalone="yes"?>
<rss version="2.0" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom">
	<channel>
		<title>Cấu trúc thơ on Thụy Khuê</title>
		<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/</link>
		<description>Recent content in Cấu trúc thơ on Thụy Khuê</description>
		<generator>Hugo</generator>
		<language>vi</language>
		
		
		
		
			<lastBuildDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</lastBuildDate>
		
			<atom:link href="https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/index.xml" rel="self" type="application/rss+xml" />
			<item>
				<title>Thay lời tựa</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/tua/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/tua/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Một câu hỏi thường đến với người đọc: Thơ hay, thế nào là hay? Và dở, thế nào là dở? Áng chừng phần đông khách yêu thơ đều tiếp nhận thi ca bằng trực giác mẫn cảm của mình và ít nhiều, đồng ý với nhau là có những câu, ví dụ như &amp;quot;Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng&amp;quot; (Kiều), đọc lên thấy hay, nhưng không hiểu tại sao hay mà vẫn thích.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Nguồn gốc thi ca: Những tác phẩm đầu tiên</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong01/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong01/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Thơ có từ bao giờ? Ðến nay chưa ai biết rõ. Những thi phẩm đầu tiên của nhân loại còn lưu đến ngày nay, ở Ðông phương là &lt;strong&gt;Kinh Thi&lt;/strong&gt;, gồm 311 bài (sự thật có 305 bài và 6 đề mục, không có lời) xuất hiện từ đầu Tây Chu đến giữa Xuân Thu (tức là từ thế kỷ XI đến thế kỷ VI trước Công Nguyên). Hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu, &lt;strong&gt;Kinh Thi&lt;/strong&gt; là tập thơ do các quan âm nhạc triều Chu sưu tập, dựa trên công trình tìm kiếm của nhạc công các nước chư hầu. Bên cạnh số lớn ca dao còn có sáng tác của thi nhân và quý tộc soạn để phổ nhạc. &lt;strong&gt;Kinh Thi&lt;/strong&gt; kết hợp với âm nhạc (thơ phổ nhạc), về sau chỉ ghi lại được phần lời là 305 bài thơ còn lại đến ngày nay. Trong quá trình biên soạn và sử dụng &lt;strong&gt;Kinh Thi&lt;/strong&gt;, các quan âm nhạc và các nhà quý tộc, trong đó có Khổng Tử, đã chỉnh lý, sắp xếp ít nhiều về nội dung cũng như hình thức. &lt;strong&gt;Kinh Thi&lt;/strong&gt; đã từng bị Tần Thủy Hoàng tiêu hủy, đến đời Hán mới sưu tập lại. Bản dùng hiện nay là của Mao Hanh, thường được gọi là Mao Thi. Lối thơ trong K&lt;strong&gt;inh Thi&lt;/strong&gt; rất tự do, không bị gò ép trong niêm luật, lời lẽ mộc mạc, tự nhiên, không đẽo gọt, trau chuốt:&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Những điều đã viết</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong02/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong02/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Bài tiểu luận bằng quốc ngữ đầu tiên phân tích bản chất thơ có lẽ là bài &lt;em&gt;&amp;quot;Thơ ta và thơ tây&amp;quot;&lt;/em&gt; của Phạm Quỳnh, xuất hiện năm 1917 trên Nam Phong Tạp Chí. Phạm Quỳnh đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về thơ: &lt;em&gt;&amp;quot;Ta coi thơ tức là vẽ, và vẽ tức là thơ; thơ là vẽ bằng lời, bằng thanh âm, vẽ là thơ bằng hình, bằng màu sắc [...].&lt;/em&gt;&lt;br&gt;&#xA;&lt;em&gt;Muốn làm bài thơ, trong trí phải tưởng tượng ra một cái cảnh, hoặc là cảnh thiên nhiên, hoặc là cảnh trong tâm giới, rồi dùng những âm hưởng thích đáng mà gọi, mà kêu nó lên, khiến cho người nghe cũng phải tưởng tượng như thế. Hai đàng cùng là vẽ cả, một đàng là vẽ cách trực tiếp, một đàng là vẽ cách gián tiếp, nhưng đều là muốn khêu gợi ra một mối tư tưởng cảm tình trong tâm trí người ta vậy.&amp;quot;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Nhận diện thơ</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong03/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong03/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Trên phương diện tinh thần, &lt;em&gt;thơ là nguồn cảm thông chung của nhân loại&lt;/em&gt; (Hegel). Về cấu trúc, &lt;em&gt;thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung của loài người và làm thơ tức là làm thế nào cho ngôn ngữ trở thành một tác phẩm nghệ thuật&lt;/em&gt; (Paul Valéry). Về phương diện ngữ học, &lt;em&gt;thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó&lt;/em&gt; (Jakobson).&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Nói như thế, không có nghĩa các triết gia, nhà phê bình, nhà ngữ học trên đây đã định nghĩa thơ. Vì thơ, cũng như trí thông minh, hay Thượng Ðế ... là những ý niệm khó định nghĩa. Người ta chỉ có thể nhận diện: Ðâu là thơ? Ðâu chỉ là những câu văn vần? Và muốn nhận diện, trước hết phải tìm hiểu một số tính chất căn bản của thơ.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Thơ, văn xuôi và văn vần</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong04/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong04/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Khái niệm về &lt;em&gt;Thể&lt;/em&gt; (forme, khác với volume) đối với chúng ta thường mơ hồ, tuy rất cần thiết để nhận diện cái &lt;em&gt;Ðẹp&lt;/em&gt;. &lt;em&gt;Thể&lt;/em&gt;, đây không chỉ là hình thức mà gần gụi với kết cấu, &lt;em&gt;Thể&lt;/em&gt; bao gồm cả hình thức lẫn nội dung: Tại sao cái bình này đẹp? Cái kia xấu? Tại sao miếng đá ong xù xì kia lại có gì quyến rũ ta trong khi viên thạch cao nhẵn nhụi, phẳng lì, không gợi cho ta một cảm xúc nào? Tại sao câu thơ này hay? Câu thơ kia dở? Ta nhận diện sự vật đầu tiên bằng trực giác qua &lt;em&gt;Thể&lt;/em&gt;. Theo Valéry, &lt;em&gt;&amp;quot;Nếu bạn là nhà thơ, thì bao giờ bạn cũng hy sinh ý tưởng cho Thể, vì Thể là cứu cánh và chính là động tác của sáng tạo.&amp;quot;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Ẩn dụ trong thơ</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong05/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong05/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Nghệ thuật thi ca, theo Aristote(1) dựa trên hai tính chất cơ bản và tự nhiên của con người: &lt;em&gt;bắt chước&lt;/em&gt; (imitation) và &lt;em&gt;trình diễn&lt;/em&gt; (représentation).&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Từ tuổi thơ ấu, con người đã &lt;em&gt;biết&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;thích&lt;/em&gt; bắt chước. Khả năng bắt chước phân biệt con người với muôn loài và nhờ đó mà ngôn ngữ nẩy sinh.&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Ngoài ra, chúng ta ưa nhìn, ngắm những hình ảnh đẹp, trên màn ảnh, trong tranh hơn là nhận diện thực trạng phũ phàng, khiếp đảm của thực tế trên những xác người; nhờ đó mà vũ điệu, ca kịch, điện ảnh... ra đời.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Ẩn dụ và hoán dụ</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong06/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong06/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Ẩn dụ và hoán dụ là hai phép tu từ giữ địa vị chủ yếu trong cấu trúc văn thơ. Nếu những tìm tòi về ngữ học không ngừng soi sáng bộ môn thi học, nghiên cứu đến ngành ngọn chức năng của ẩn dụ trong thơ, thì ngược lại, vai trò hoán dụ trong văn xuôi ít được chú ý. Vì sao? Lý do đơn giản: thơ lấy ngôn ngữ làm giá trị tự tại trong khi văn dùng ngôn ngữ như một phương tiện dẫn giải. Giá trị của thơ chủ yếu nằm trong lời, giá trị của văn cốt ngụ ở ý. Vai trò của ẩn dụ trong thơ đã được trình bày trong chương trước.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Cấu trúc hình thức thi ca</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong07/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong07/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;i-lựa-chọn-và-kết-hợp&#34;&gt;I. Lựa chọn và kết hợp&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;Có thể nói từ trước đến nay, những nhà phê bình, triết gia như Valéry, J. P. Sartre... phần nào đã xác định bản chất thi ca dưới hình thức phân tâm học, phải đến những nhà ngữ học chủ yếu như Roman Jakobson mới thực sự xuất hiện sự phân tích khoa học về cấu trúc hình thức thi ca.&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Ferdinand de Saussure (1857-1913), cha đẻ ngữ học hiện đại cho rằng: Ở trước, ở ngoài ngôn ngữ, tư duy chỉ là một khối hỗn loạn, vô hình thức, một đám mây u ám. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu mà con người dùng làm phương tiện giao tiếp xã hội và biểu cảm(1).&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Nguyên lý song song</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong08/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong08/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;i-từ-láy-trong-tiếng-việt&#34;&gt;I. Từ láy trong tiếng Việt&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;Tính chất song song hiện diện trong ngôn ngữ qua những từ kép, từ láy. Trong &lt;strong&gt;Khái Niệm Về Ngữ Pháp Việt Nam&lt;/strong&gt; (Sài Gòn, 1963) Nguyễn Hiến Lê và Trương Văn Chình hợp láy với ghép vào một khái niệm chung, gọi là từ kép: &lt;em&gt;&amp;quot;Tiếng đôi, tiếng ba, tiếng tư ta gọi là từ kép&amp;quot;&lt;/em&gt;. Trong &lt;strong&gt;Sơ Thảo Ngữ Pháp Việt Nam&lt;/strong&gt; (Sài Gòn, 1972), Lê Văn Lý gọi từ láy là &lt;em&gt;&amp;quot;từ ngữ kép phản phúc! Ðó là những từ ngữ đơn được lắp đi lắp lại trong những yếu tố thành phần của chúng&amp;quot;&lt;/em&gt;. Hoàng Văn Hành trong T&lt;strong&gt;ừ Láy Trong Tiếng Việt&lt;/strong&gt; (Hà Nội, 1985), đưa ra một nhận định hoàn chỉnh hơn: &lt;em&gt;&amp;quot;Từ láy của tiếng Việt chịu sự chi phối của xu hướng hòa phối ngữ âm. Xu hướng này biểu hiện ở quy tắc điệp và quy tắc đối. Ðiệp và đối ở đây được hiểu với ngĩa rộng: Ðiệp là sự lặp lại, sự đồng nhất về âm, về nghĩa; còn đối là sự sai khác, sự dị biệt, cũng về âm, về nghĩa.&amp;quot;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Phân tích bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong09/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong09/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;nguyệt-cầm&#34;&gt;Nguyệt Cầm&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;A Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh&lt;br&gt;&#xA;Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần&lt;br&gt;&#xA;Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm&lt;br&gt;&#xA;Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.&lt;br&gt;&#xA;*&lt;br&gt;&#xA;B Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh&lt;br&gt;&#xA;Lung linh bóng sáng bỗng rung mình&lt;br&gt;&#xA;Vì nghe nương tử trong câu hát&lt;br&gt;&#xA;Ðã chết đêm rằm theo nước xanh.&lt;br&gt;&#xA;*&lt;br&gt;&#xA;C Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,&lt;br&gt;&#xA;Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ...&lt;br&gt;&#xA;Long lanh tiếng sỏi vang vang hận&lt;br&gt;&#xA;Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...&lt;br&gt;&#xA;*&lt;br&gt;&#xA;D Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,&lt;br&gt;&#xA;Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.&lt;br&gt;&#xA;Sương bạc làm thinh, khuya nín thở&lt;br&gt;&#xA;Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.&lt;br&gt;&#xA;Xuân Diệu&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Dòng mạch siêu thực trong thơ hiện đại</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong10/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong10/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Hai chữ &lt;em&gt;tự do tiềm ẩn trong sáng tác&lt;/em&gt;. Nhưng &lt;strong&gt;thơ&lt;/strong&gt; và &lt;strong&gt;tự do&lt;/strong&gt; là hai người bạn đường không hoà thuận vì chính cấu trúc vần điệu và niêm luật của thi ca đã phần nào gò ép, cưỡng bức tự do.&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Ý thức sáng tạo thúc con người tìm cái mới, và ý thức tự do dục nhà thơ đạp đổ những gò ép cưỡng bức của vần điệu, niêm luật để tìm đến một vùng đất mới mà thơ và tự do có thể sống chung hoà bình.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Khuynh hướng mở đầu: Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Ðình Thi</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong11/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong11/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Thoạt trông thì những bài thơ: &lt;strong&gt;Tống Biệt&lt;/strong&gt; (1)(1917), &lt;strong&gt;Cảm Thu&lt;/strong&gt; , &lt;strong&gt;Tiễn Thu&lt;/strong&gt; (1920) của Tản Ðà có vẻ là những bài thơ &amp;quot;tự do&amp;quot; đầu tiên của thế kỷ này. Nhưng thực ra, &lt;strong&gt;Tống Biệt&lt;/strong&gt; là một từ khúc theo điệu Hoa phong lạc rút từ vở chèo &lt;strong&gt;Thiên Thai&lt;/strong&gt; của Tản Ðà, nhịp điệu hao hao giống thơ tự do, nhưng niêm luật rất chặt chẽ.&lt;/p&gt;&#xA;&lt;blockquote&gt;&#xA;&lt;p&gt;Lá đào rơi rắc lối thiên thai&lt;br&gt;&#xA;Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi&lt;br&gt;&#xA;Nửa năm tiên cảnh&lt;br&gt;&#xA;Một phút trần ai&lt;br&gt;&#xA;Ước cũ duyên thừa có thế thôi.&lt;br&gt;&#xA;Ðá mòn, rêu nhạt&lt;br&gt;&#xA;Nước chẩy, huê trôi&lt;br&gt;&#xA;Cái hạc bay lên vút tận trời&lt;br&gt;&#xA;Trời đất từ đây xa cách mãi&lt;br&gt;&#xA;Cửa động,&lt;br&gt;&#xA;Ðầu non&lt;br&gt;&#xA;Ðường lối cũ&lt;br&gt;&#xA;Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Sáng Tạo</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong12/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong12/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Trong khoảng thời gian từ 45 đến 54, những xu hướng muốn làm mới văn học nghệ thuật đều bị cản trở, Nguyễn Xuân Sanh trở về với thơ mới, Tô Ngọc Vân vẽ tranh tuyên truyền, Nguyễn Ðình Thi cũng làm thơ khuôn khổ, Văn Cao im lặng, ...&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Sự đòi hỏi tự do sáng tác và đổi mới tư duy văn học trổi dậy sau ngày chia đôi đất nước. Miền Bắc xuất hiện phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, với ý thức cải tạo toàn diện đời sống con người, dân chủ hóa đất nước và tự do sáng tác. Riêng trong địa hạt thi ca, những nhà thơ như Hoàng Cầm, Trần Dần và nhất là Lê Ðạt còn muốn đoạn tuyệt với thơ mới để bước vào thơ hiện đại.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Thơ tự do: Thanh Tâm Tuyền</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong13/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong13/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Một tác phẩm văn học có thể phản chiếu được thời đại hay không? &lt;strong&gt;Tôi Không Còn Cô Ðộc&lt;/strong&gt; của Thanh Tâm Tuyền có thể trả lời được câu hỏi đó.&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Xuất hiện tháng 10/1956 cùng với tạp chí &lt;em&gt;Sáng Tạo&lt;/em&gt;, tác phẩm gây những phản ứng cực kỳ tương phản và nhiều năm sau, lời yêu, tiếng ghét vẫn chưa nguôi cường độ và nồng độ ban đầu.&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Cùng thời Thanh Tâm Tuyền, thơ của Quách Thoại, Cung Trầm Tưởng, Ðoàn Thêm, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, ... dạng thức tự do, Tô Thùy Yên, Hoàng Trúc Ly, Nguyên Sa, ... vẫn còn lưu luyến thơ mới, Bùi Giáng, Nguyễn Ðức Sơn, ... hình ảnh mới nhưng hình thức cũ.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Thơ văn xuôi: Thi giới Ðặng Ðình Hưng</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong14/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong14/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;bến-lạ&#34;&gt;Bến Lạ&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;Thơ tự do không chỉ là một hình thức bãi bỏ niêm luật thông thường trong thơ cổ điển, mà còn thể hiện một nhu cầu, một đòi hỏi, một cần thiết của con người nói những điều muốn nói và nghĩ những điều muốn nghĩ một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi quy luật của chữ nghĩa và lề luật của đời sống. Thơ tự do, cũng như hội họa trừu tượng, vì gạt bỏ những hình thức bề ngoài như niêm luật (trong thơ cổ điển), như tỷ lệ hình thái, phân lệ bối cảnh, ước lệ không gian (trong hội hoạ cổ điển), nên có khả năng mở rộng tâm giới, tìm đến cõi vô biên của tiềm thức mà không một quy luật cụ thể nào của loài người có thể giam hãm nổi.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Thơ tạo sinh: Lê Ðạt</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong15/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/chuong15/</guid>
				<description>&lt;h2 id=&#34;cái-tôi-trong-thơ-hiện-đại&#34;&gt;Cái tôi trong thơ hiện đại&lt;/h2&gt;&#xA;&lt;p&gt;Như chúng ta đã biết dòng mạch siêu thực ra đời những năm 20 với phong trào &amp;quot;Ða Ða&amp;quot; từ Zurich, sang Paris - New-York. Ðối với thi ca, André Breton, Jean Cocteau chối bỏ cấu trúc cổ điển, dựa trên nguyên lý song song: Song song trong vần điệu, song song trong điệp âm, điệp ý, song song trong đối âm, đối ngẫu, ... để mở ra một phong cách sắp xếp chữ nghĩa khác, trong đó cấu trúc du dương không còn giữ địa vị độc tôn như xưa nữa. Cấu trúc mới còn gọi là &lt;em&gt;cấu trúc không vần&lt;/em&gt; &amp;quot;non vers&amp;quot;, phát hiện ngay từ đầu thế kỷ với ý hướng giải thoát câu thơ từ hình thức thẳng sang hình thức nổi, hay hình thức âm thanh, hoặc đảo lộn ngữ pháp từ thời kỳ Ða Ða. Guillaume Apollinaire là một trong những người tiên phong bước vào thể loại vô hình thức.&lt;/p&gt;</description>
			</item>
			<item>
				<title>Thư mục</title>
				<link>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/thumuc/</link>
				<pubDate>Tue, 01 Jan 1991 00:00:00 +0100</pubDate>
				<guid>https://thuykhue.tail21018a.ts.net/sach/cau-truc-tho/thumuc/</guid>
				<description>&lt;p&gt;Những sách được nhắc đến, trích dẫn hoặc dùng làm tài liệu tham khảo trong tập chuyên luận này:&lt;/p&gt;&#xA;&lt;p&gt;Aristote: &lt;strong&gt;Poétique&lt;/strong&gt;, Collection dirigée par Michel Simonin, Poche, Paris 1990&lt;br&gt;&#xA;G. Bachelard: &lt;strong&gt;La psychanalyse du feu&lt;/strong&gt;, Ed. Gallimard, Paris 1949, Folio, Paris 1994&lt;br&gt;&#xA;G. Bachelard: &lt;strong&gt;L&#39;air et les songes&lt;/strong&gt;, Ed. José Conti, Paris 1943, Poche, Paris 1992&lt;br&gt;&#xA;P. Bacry: &lt;strong&gt;Les figures de style&lt;/strong&gt;, Belin, Paris 1992&lt;br&gt;&#xA;R. Barthes: &lt;strong&gt;Le degré zéro de l&#39;écriture&lt;/strong&gt;, Seuil, Paris 1953, 1972, Points, Paris 1972&lt;br&gt;&#xA;C. Baudelaire: &lt;strong&gt;Les fleurs du mal&lt;/strong&gt;, Flammarion, Paris 1964&lt;br&gt;&#xA;H. Bremond: &lt;strong&gt;La poésie pure&lt;/strong&gt;, Grasset, Paris 1926&lt;br&gt;&#xA;A. Breton: &lt;strong&gt;Manifestes du Surréalisme&lt;/strong&gt;, Gallimard, Folio Essais, Paris 1994&lt;br&gt;&#xA;F. Cheng: &lt;strong&gt;L&#39;écriture poétique chinoise&lt;/strong&gt;, Seuil, Paris 1992&lt;br&gt;&#xA;&lt;strong&gt;Chinh Phụ Ngâm&lt;/strong&gt;, Nguyễn Huy chú giải, Ðại Nam California in lại&lt;br&gt;&#xA;Dương Quảng Hàm: &lt;strong&gt;Việt Nam văn học sử yếu&lt;/strong&gt;, Hà Nội 1941, Bộ Quốc Gia Giáo Dục Sàigòn, 1960&lt;br&gt;&#xA;&lt;strong&gt;Ðại Việt sử ký toàn thư&lt;/strong&gt;. Bản khắc in năm Chính Hòa thứ XVIII (1687), NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội , tập I (1983), tập II (1985)&lt;/p&gt;</description>
			</item>
	</channel>
</rss>
