Poèmes de Lê Thị Lựu
Thơ Lê Thị Lựu
Poèmes de Lê Thị Lựu
Têtes de poisson braisées1
À mon ami Mai Thứ
Autrefois Thứ était pauvre, pauvre à faire peur
Du riz, du poisson, du sel de sésame, des légumes aigres
Aujourd'hui Thứ est riche à ne pas imaginer
Et le sel de sésame, le riz et le poisson, il les aime toujours
Il vient en visite le jour même où Lựu
Fait braiser du poisson et jette les têtes
Il les ramasse et gronde encore
Cette petite est plus sotte qu'une bête
La tête braisée est savoureuse, et grasse
Sans la tête, que reste-t-il de bon
Pour le poisson braisé, il n'y a que moa de saint
Parce que moa, je le braise entier
Écoute donc, et retiens bien :
Soja, poivre et sel comme il faut
Pour que ce soit bon, il faut braiser longuement
Et n'oublie ni le galanga sec ni l'eau de coco
Le riz cuit, le poisson fondant, on oublie la misère
Quelques coupes d'alcool fort, on oublie la douleur
Cheveux noirs, jamais malade, on ne vieillit pas
Et au diable les affaires du monde, entre nous
Et voici mon vœu :
Les têtes de poisson, garde-les-moi désormais
Si moa meurt le premier, Lựu, souviens-toi :
Moa et le poisson, dans le même trou, ensemble.
Écrit au hameau de Gentilly
Paris, le 14 avril 1967
Thạch Ẩn Lê Thị Lựu
Nostalgie
Le printemps et l'été poussent l'automne qui court à l'hiver
Les quatre saisons changent, vite comme un rien.
Joie du matin autour du jardin, joie du paysage,
Plaisir du soir à flâner, plaisir d'attendre.
Pour chasser le chagrin, je pose quelques traits,
Les traits se brouillent, tachés de larmes : difficile d'en venir à bout.
Les hasards de ce monde sont fixés d'avance,
Le bon comme le mauvais, il faut s'en remettre au Créateur.
Écrit à la maison de repos de Tende, le 8 juillet 1983
Thạch Ẩn
En pleurant mon père
La mauvaise nouvelle est arrivée
Mon père est mort
Mon père s'en est allé là-bas
Et moi je reste ici
Jour et nuit je pense à lui
Quand donc la peine s'apaisera-t-elle
Ô mon père
Là-bas, puissiez-vous être en paix
Mieux qu'en ce monde de douleur
De tout mon cœur je prie pour votre délivrance
Et pour qu'il me soit donné de revoir
Mon vieux père vénéré
Lựu
Confié au vent
Mille tendresses, je les confie au vent pour le pays
Ô vent, porte-les, ne compte pas ta peine
Traverse les forêts, franchis les monts, passe les fleuves
Mille tendresses, si lourdes soient-elles, vent, ne les laisse pas tomber.
Neuf ans de plus loin du pays2
Le vent s'en va, je reste assise, et mon cœur s'attriste encore
Ai-je mal compté, ou bien où est la faute
L'échiquier est bloqué ; j'ai beau me creuser la tête, je ne trouve pas.
Je baisse les yeux sur les fleuves et les monts, proches et lointains
La source murmure doucement, et mon cœur s'attriste encore
Je lève les yeux : les nuages blancs, d'une seule couleur
S'en vont au gré du vent — les nuages vont m'oublier.
Que ne suis-je nuage
Pour monter, retenir le vent, l'attendre et partir aussitôt
Tout cet amour, si lourd, sans limite,
Le lâcher dans le ruisseau d'argent, jeter le chagrin, et devenir légère.
Tende, le 6 août 1984
Thạch Ẩn
Sans titre 1
Pleurer en silence des dizaines de milliers de nuits
Écrire, écrire encore, et n'envelopper le cœur que d'un surcroît de peine.
La dette de ce monde, on la paie sans jamais l'éteindre
Serrer les dents, se résigner, le cœur brûlé, sans un gémissement
Sans titre 2
Pourquoi cette tristesse, toujours pareille
Pourquoi cette tristesse ininterrompue, le jour comme la nuit
Payons sans bruit la dette de la vie d'avant
Pour que la vie prochaine n'ait pas à en payer dix fois les intérêts.
Sans titre 3
Où aller, je ne sais, où demeurer
Où donc, pour en finir avec la honte et la peine
Nul ne me serre le cœur, et le cœur me point
Nul ne me hache les entrailles, et j'ai mal
Où aller, je ne sais, où vivre
Où donc, pour enterrer la rancune et la peine
Nul ne me frotte le cœur de sel, et pourtant il brûle
Nul ne me hache les entrailles, et pourtant elles se tordent
Le fleuve traversé, comment couper le pont derrière soi
Sans y penser, ou en y pensant — dites-moi pourquoi
Cinquante ans et plus de vie commune
Et voilà qu'on se résigne à se traiter si mal
Sans titre 4
Un peu de parfum confié au vent par-delà les forêts
Si tu l'emportes là-bas, ô vent, fais qu'il ne se fane pas
Sans titre 5
À penser au monde des hommes, souvent le courage s'amollit
À regarder le pays, les cheveux blanchissent comme en se jouant
Sans titre 6
Je ne vaux ni plus ni moins qu'une autre
Pourquoi tant d'épreuves à porter sur mes deux épaules
Les nuages sont hauts, trop hauts : comment les appeler
Petite et basse, il me faut bien subir la moquerie
© 2018 Thụy Khuê
Mme Lựu racontait souvent : au temps des vaches maigres, Vũ Cao Đàm dut se faire pédicure et manucure, tandis que Lê Phổ et Mai Thứ montaient sur scène en tunique et turban pour faire de la figuration. Ce poème rappelle l'anecdote : ils étaient alors si pauvres qu'il fallait aller au marché demander aux poissonniers les têtes de poisson qu'ils coupaient et jetaient, pour les faire braiser et les manger avec des légumes au sel — un délice. ↩︎
Ce poème est de 1984, neuf ans après son voyage au Viêt Nam : le voyage à Hanoi de 1975 lui avait apporté de lourdes déceptions, et, rentrée à Paris, elle s'en était ouverte à une amie proche. Celle-ci, contre toute attente, le rapporta aux milieux proches du pouvoir d'alors ; Lê Thị Lựu fut « exclue » et n'eut plus « le droit » de retourner au pays. ↩︎
Thơ Lê Thị Lựu
Ðầu cá kho1
Tặng bạn Mai Thứ
Xưa Thứ nghèo sơ nghèo sác
Cơm cá muối vừng dưa chua
Nay Thứ giầu không tưởng tượng
Muối vừng cơm cá vẫn ưa
Tới chơi vừa hôm cô Lựu
Kho cá bỏ đầu ném đi
Nhặt lên Thứ còn mắng với
Cô này ngu hơn giống gì
Ðầu kho vừa bùi vừa béo
Không đầu còn gì là ngon
Cá kho chỉ moa là thánh
Bởi moa kho cá cả con.
Hãy lắng mà nghe cho rõ:
Xì dầu tiêu muối cho vừa
Muốn ngon phải kho cho kỹ
Ðừng quên riềng khô nước dừa.
Cơm chín, cá dừ, quên khổ
Rượu nồng dăm chén quên đau
Tóc xanh vô bệnh không già
Mặc xác chuyện đời với nhau
Và đây là lời ước nguyện
Ðầu cá để dành từ sau
Nếu moa chết trước, Lựu nhớ:
Moa, cá một hố cùng nhau.
Viết tại xóm Gentilly
Paris 14-4-1967
Thạch Ẩn Lê Thị Lựu
Cảm hoài
Xuân, Hạ dồn Thu chạy đến Đông
Bốn mùa thay đổi chóng như không.
Vui sớm quanh vườn, vui với cảnh
Thú chiều thơ thẩn thú chờ mong.
Mong cất cơn sầu, bôi mấy nét
Nét nhòe hoen lệ, khó bề xong.
Chuyện đời may rủi do tiền định,
Hay dở thôi đành mặc hóa công.
Viết tại An dưỡng đường ở Tende 8-7-1983
Thạch Ẩn
Khóc cha
Hung tín sang
Cha mất rồi
Cha đi về bên đó
Con còn lại bên này
Ngày đêm con thương nhớ
Lòng sầu bao giờ nguôi
Cha ơi
Chốn đó mong cha yên ổn
Hơn trần gian khổ đau
Chí tâm con cầu siêu
Cho con còn gặp lại
Đấng cha già kính yêu
Lựu
Gửi gió
Muôn thương gửi gió về quê
Gió ơi: Mang giúp chớ nề tốn công
Xuyên rừng, vượt núi qua sông
Muôn thương dù nặng gió đừng bỏ rơi.
Xa quê thêm chín năm rồi2
Gió đi, ngồi lại, lòng tôi thêm sầu
Tính nhầm hay lỗi vì đâu
Cờ đâm nước bí, vò đầu không ra.
Cúi nhìn sông núi gần xa
Suối reo nhè nhẹ, lòng ta thêm sầu
Ngửng lên mây trắng một mầu
Bay theo đà gió, mây hầu quên ta.
Tiếc sao ta chẳng là mây
Lên cao, níu gió, đợi đây đi liền
Bao nhiêu tình nặng vô biên
Buông dòng suối bạc, ném phiền nhẹ thênh.
Tende 6-8-1984
Thạch Ẩn
Vô đề 1
Khóc thầm mấy chục ngàn đêm
Viết bao nhiêu chỉ bao thêm khổ lòng.
Nợ trần giả mãi chưa xong
Cắn răng cam chịu sót lòng chẳng rên
Vô đề 2
Buồn sao buồn mãi thế này
Buồn sao liên tiếp cả ngày lẫn đêm
Nợ kiếp trước giả cho êm
Kiếp sau khỏi trả lãi thêm gấp mười*.*
Vô đề 3
Nào biết về đâu biết ở đâu
Ở đâu cho hết tủi hờn đau
Tim không ai thắt mà nghe nhói
Ruột chẳng ai bằm vẫn thấy đau
Nào biết về đâu biết sống đâu
Sống đâu chôn hết hận hờn đau
Tim không muối xát mà sao xót
Ruột chẳng ai bằm cũng quặn đau
Qua sông sao nỡ chặt băng cầu
Vô tình hữu ý hỏi vì đâu
Năm mươi năm lẻ cùng chung sống
Nay nỡ cam lòng bạc đãi nhau
Vô đề 4
Chút hương gửi gió qua ngàn
Có đem về đó đừng tàn gió ơi
Vô đề 5
Nghĩ nhân thế, mềm gan lắm lúc
Nhìn non sông bạc tóc như chơi
Vô đề 6
Em chẳng hơn ai chẳng kém ai
Cớ sao thử thách chiũ hai vai
Mây cao, cao quá kêu sao tới
Thấp bé âu đành chịu mỉa mai
© 2018 Thụy Khuê
Bà Lựu thường kể: Thời hàn vi, có lúc Vũ Cao Đàm phải làm thợ sửa móng chân móng tay, Lê Phổ và Mai Thứ mặc áo dài khăn đóng đứng trên sân khấu làm cảnh. Bài thơ này bà nhắc lại câu chuyện: Lúc đó nghèo quá, phải ra chợ xin đầu cá những người hàng cá chặt bỏ đi, về kho ăn với dưa muối, ngon tuyệt. ↩︎
Bài này làm năm 1984, sau khi bà về nước chín năm: Chuyến về Hà Nội năm 1975, đã đem lại cho bà những thất vọng nặng nề, khi trở lại Paris bà tâm sự với người bạn thân. Không ngờ người ấy kể lại với giới thân cận chính quyền thời đó, nên bà bị "khai trừ" không "được phép" trở về nước nữa. ↩︎