Y Dịch, một đời cất giấu hồn thơ

Mỗi người thân văn nghệ của tôi ra đi một cách khác nhau. Họ cũng không chết một cách "thông thường" như những người khác. Với những người khác, dường như một lần đi là vĩnh viễn. Người văn nghệ chết đi nhưng còn một cái gì đó -ngoài thể xác vừa tạ từ- ở lại. Và chúng tôi vẫn tiếp tục câu chuyện đang nói với nhau, với chỗ "ở lại" đó như thể người đi, kẻ ở chưa hề đoạn trở dương âm.

Mười hai năm trước tiễn họa sĩ Lê Thị Lựu, tôi đến chào bà ở bệnh viện Antibes (miền Nam nước Pháp), mai lên đường về Paris và mừng bà ngày mai được ra khỏi viện vì bệnh tim đã đỡ. Cả hai đều chưa biết gì về chuyến đi sắp tới chỉ trong vài giờ nữa của bà, nên đã tiêu dùng những giờ khắc còn lại một cách rộng rãi, gần như xa xỉ. Bà cười tươi như ảnh chụp thời xưa: nụ cười giai nhân mười tám trên môi bà cụ tám mươi. Vẫn những tâm sự dí dỏm, bà thường kể như chưa bao giờ múc cạn quá khứ của mình. Miền Lê Thị Lựu đã đi qua là mảnh đất tung hoành của nhiều kẻ còn, người mất. Bà phối âm Tự Lực Văn Ðoàn, những Tường Tam, Tường Lân, pha với màu Mai Thứ, Cao Ðàm, Lê Phổ, nổ ran trong đám học trò tinh nghịch Mai Thảo, Thúc Linh... như một tổ khúc. Thế giới xưa trở về trong giao hưởng âm thanh, mầu sắc, tạo nên những bức ấn tượng đặc biệt, nửa mơ nửa thực, nửa hội họa nửa thi ca. Tôi vẫn trách bà sao không viết hồi ký. Bởi cách tạo hình -ngoài bút vẽ- của bà có ma lực xoáy vào lòng người mà vì một cơ duyên may mắn, tôi là kẻ duy nhất tham dự. Nói "duy nhất" bởi vì có lẽ không ai thấm chuyện bà như tôi. Tuy rất thân với ông Tân, chồng bà, ông cụ hằng kể những chuyện ly kỳ thời trẻ, nhưng lạ là khi ông đi, mọi sự trôi theo, không còn gì đọng trong tôi. Có lẽ bởi vì ông là "người thường", không tạo được một sinh cảnh Ðồ Sơn với những nét chấm phá đậm nhạt, những đổi thay mầu sắc. Ðồ Sơn, Sầm Sơn của bà, đã là một Ðồ Sơn, Sầm Sơn Lê Thị Lựu, như một Ðoan Hùng Thế Lữ, Long Giáng Khái Hưng. Nhưng những vùng linh hiển Thế Lữ, Khái Hưng đã nhiều người thăm viếng. Còn mảnh trời riêng Lê Thị Lựu, đơn lạc, chưa chắc mấy ai đã tạt vào.


Hội họa, đơn lạc và cái chết, Y Dịch dường như cũng có đôi chút duyên nợ. Cả đời anh làm thơ. Lại cả đời "giấu" thơ của mình. Bà cụ anh kể: Hồi nhỏ Ðiểu giấu thơ trên ... nóc nhà.

Tuy "làm thơ từ thuờ mười ba" nhưng Y Dịch giấu thơ Y Dịch.
Anh chối "tội" làm thơ. Như thể làm thơ là một tội. Nếu biết tôi đang viết những dòng này chừng anh ngượng lắm. Kệ. Cứ viết. Một buổi trưa tại Washington D.C., hình như là bữa cơm văn bút gì đó, cách đây trên mười năm. Tôi từ Paris sang, Lê Ðình Ðiểu từ Cali lại. Gặp nhau lần đầu. Lịch sự, Ðiểu mời ngồi cùng. Cười cười tôi đọc:

Ðời tổng hợp bởi muôn nghìn mặt phẳng
Mà tình ta là quỹ tích không gian.
Kiếp nhân sinh những hàm số tuần hoàn
Quanh quẩn chỉ trong một vòng lượng giác.
Anh không muốn cuộc đời toàn sin cos
Sống khép tròn công thức cộng nhân cung
Cạnh góc đời ôi phức tạp vô cùng
Mà hạnh phúc chính là đường biểu diễn
Sống yên bình chờ dòng đời tịnh tiến
Ðâu phải là nghiệm số của lòng trai
Anh muốn lên tận cực của thiên tài
Ðể đo lấy bán kính trần gian vũ trụ
...
(Tình Toán Học)

Còn mấy câu sau, tôi quên rồi, ông nhớ không? Ðiểu bối rối. Mặt đỏ bừng, một dòng sáng long lanh chảy trong lòng mắt. Ðiểu không trả lời. Không lắc. Không gật. Tôi bực, hơi gắt: "Thơ mình mà cũng quên". Bấy giờ Ðiểu mới lừng khừng: "Thế à? Chịu." Không phủ nhận. Không xác nhận. Tôi đâm ngờ vực ký ức: Hay mình nhớ nhầm? Hay không phải thơ hắn? Có đâu mà lầm. Rõ ràng "tác phẩm bất hủ" của những đứa học ban B: Mỗi câu có ít nhất một từ toán, đúng chỗ, đắc địa. Bài thơ đăng trên báo xuân Chu Văn An, tờ báo bán chạy nhất trong các tờ xuân học trò. "Kiệt tác" được nhiều đứa chép lại trong sổ tay như kinh thi, như sở từ. Và "kiệt tác" đã theo du học đi xa. Từ hơn 30 năm nay, mình vẫn nhớ là thơ hắn. Phải là thơ hắn, "ngôi sao văn đàn" thời đó. Ðợi đích mặt để hỏi mấy câu cuối, phụ vào trang ký ức dở dang. Nay gặp. Hắn chối. Như một đời thơ không có trên đời. Như một kỷ niệm chưa bao giờ hiện hữu. Như một Sàigòn văn nghệ toán loạn những năm 60, chưa bao giờ thực. Như những tập báo xuân Chu Văn An chưa bao giờ được in ra...

Mà làm sao xóa được. Cả đám học trò con gái thời đó đều "nhất trí" rằng bọn "Chu Văn Ôn" tuy có ăn bả Trứ-Quát "thông minh nhất nam tử, yếu vi thiên hạ kỳ", có trót vỗ ngực "viết ngang trời ba chữ Chu Văn An", tuy có..., tuy có... nhiều tội lắm, nhưng chúng cũng có chút tài mọn, ít ra là tài làm báo xuân, hay hơn bọn con gái, cứ đến những ngày cuối năm, là chúng "bàng bạc" đem báo xuân vào trường chúng tôi rao bán. Không chỉ bán báo mà lợi dụng tình thế làm quen, dăm ba tên lăm le chờ chực ở cổng trường để hộ tống xe (đạp) giai nhân xa giá. Ở chỗ đó, Thầy Nguyên Sa đã đi guốc vào bụng chúng: Nàng đến gần tôi chỉ muốn quay đi, cả những giờ bên lớp học trường thi, tà áo khuất thì thầm chưa phải lúc...

Thời đi học trôi nhanh, nhưng dấu giầy, vết xe hằn sâu trên hành trình còn lại. Như Ðiểu cứ giấu thơ mình rồi lúc chết đi lại có người, người yêu, người vợ, tìm từng bản thảo đem in. Ðể tôi lại có dịp tiếp tục câu chuyện dở dang với Ðiểu, chỗ mà chúng tôi chưa từng đả động khi còn sống: Thơ Y Dịch.

Ðiều thú vị nhất mà Ðiểu chưa biết ấy là trong tập "Lưu bút ngày xanh" tôi có chép hai bài thơ Y Dịch. Thơ trong Lưu bút có lệ không ghi tên tác giả. Dù Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận... hay Y Dịch, Ðinh Hùng gì đó, thì các anh cũng chỉ ... đồng hạng thôi. Quan trọng là lời lẽ các anh có hợp gu chúng tôi không, và đã được chọn thì chắc chắn là sẽ ... được nhớ đời. Lưu bút ngày xanh rồi cũng phôi pha, tan tác trong loạn lạc, thất tán trong ly hương, mấy ai còn giữ, nhưng phần lưu tâm khó tuyệt bản trong lòng.

Hôm chị Ðiểu gửi cho tập thơ Y Dịch, như một huệ trời, tôi tìm thấy ở Chiều và Mimosa, những bài thơ mình đã "tuyển" hồi mười tám tuổi.

Ta ngồi đây nhìn chiều hồng nhẹ chết
Áo hoàng hôn trùm kín không gian sầu
Ôi mắt em bụi đêm mờ lấp cả
Phút giây sau tìm chẳng thấy chiều đâu
(Chiều)

Bài Mimosa dài hơn, hình như dạo ấy, có đoạn tôi đã chép lên trang đầu làm lời "tựa" cho tập lưu bút.

Người đã yêu ai? mười lăm hay mười sáu
Muốn ngỏ lời bằng lưu bút ngày xanh
Bằng trang thư màu tím giấy mong manh
Nhưng vẫn ngại, vẫn run, hay vẫn thẹn?
Ôi, đắm say tuổi yêu đương hò hẹn
Xin mách người hãy thổ lộ bằng hoa.
Xin mách người một đóa Mimosa
"Tình thứ nhất và từ lâu câm nín"
(Mimosa)

Mimosa Y Dịch là đóa mimosa đầu, mười lăm, mười sáu. Sau này trên đường đời tôi còn gặp nhiều mimosa khác, nhưng đóa hoa đầu được "tuyển" vẫn đẹp như một di tích cảm xúc nguyên khai, như một lựa chọn lâu dài cho thời còn lại.

Thơ học trò của Y Dịch đậm dấu Nguyên Sa. Những bài Mimosa, Giãi Bày, Chiều Tưởng Nhớ, Khi Em Chết, ... mang dư âm Cần Thiết, Tuổi Mười Ba... nhưng tuổi học trò cần những bài thơ như thế, nhiều bài thơ như thế, của một tác giả ... học trò:

Cho dáng em đi tha thướt trong chiều thu
Cho môi em buồn cho mắt em thơ
Ðể anh xuyến xao suốt ngày bỏ bê sách vở
(Giãi Bày)

Chùm hoa học trò của Ðiểu không phải là không có những âm thật hay, thoát khỏi ảnh hưởng các thầy để trở thành thơ Y Dịch trọn vẹn:

Khi em chết, đường đi sao rất vắng
Thoi vàng rơi không dẫn lối em về

(Khi Em Chết)

mang những bâng khuâng khác lạ: "dăm bông nở muộn lạnh lưng nhà". Lạnh lưng nhà, ôi sao mà đẹp. Thơ các thầy đã mấy khi có được những vọng ảnh xót xa đến thế.


Rồi ra, sống ở đâu thì khoảng không gian xưa, không gian mười tám, vẫn như đoản sóng ngầm lưu thông trong huyết quản, thỉnh thoảng chúng xáo trộn những chuyến đi, lay chúng tôi lai tỉnh một vài giây, ngơ ngác:

Tỉnh ra trên một chuyến tầu
Giật mình vội hỏi đi đâu bây giờ?
(Hiện Kiếp)

Bài thơ Hiện Kiếp, Ðiểu viết từ năm 60. Năm 60 cũng là năm Ðiểu viết nhiều thơ nhất. Có lẽ vì báo xuân Chu Văn An bán chạy. Có lẽ vì lúc đó Ðiểu đang yêu. Có lẽ vì... hàng trăm lẽ nhưng chỉ biết sau này vào đời, Ðiểu ít làm thơ, hầu như không làm thơ nữa trừ một vài bài tặng vợ, chung tình và tha thiết:

Nợ em một sáng mù sương
Một trưa lộng gió, một đường lá bay
Nợ em hơi ấm bàn tay
Nợ em tóc xõa phủ đầy vai đêm.
(Nợ Em)

Những năm 60, thơ Ðiểu đã có những trăn trở của một người đứng tuổi, nghiệm đời. Ðời thơ, dầu ngắn ngủi, đã tiên nghiệm đời sau:

Mưa nghiêng mặt lộ đèn buồn
Hàng cây tức tưởi linh hồn nước dâng
Trán nhăn hiện kiếp một vầng
Ðường không dưng chắn mấy tầng building.
Ðiệu buồn bốc tự tay xanh
Hay từ vô thức một mình đi hoang?

Mưa nghiêng mặt lộ đèn vàng
Những luồng bên ấy thổi sang bên này
Ði về đâu nốt đêm nay
Ði về đâu nốt kiếp này người ơi?
(Hiện Kiếp)

Y Dịch làm thơ cho mình, cho người yêu, cho bạn. Anh không làm thơ "để đời" như nhiều kẻ lạm thơ, lạm bút. Cho nên trong thơ anh, người ta thấy đủ thứ "ảnh hưởng". Nơi anh, các thầy ca dao, Nguyễn Bính, Nguyên Sa, Ðinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, Huy Cận... đều đã lên bục giảng và hồn thơ Y Dịch tổng hợp tâm hồn ca dao trong hình tượng và tâm thức những người thơ đi trước.

Bài Mê Cuồng Ca chắc chắn anh đã ảnh hưởng sâu sắc Mê Hồn Ca của Ðinh Hùng. Nhưng từ ảnh hưởng một Ðinh Hùng quỷ khốc thần sầu, Y Dịch đã tạo được cho thơ những câu đớn đau, hoang lạc:

Nghe rùng mình nghiến xiết điệu ca xanh
Ứ đọng thời gian gió dựng mây thành
Nghe nhón bước mà bỗng dưng vắng ngắt
Lá không trở mình hoa vàng nín bặt
Áo liêu trai nửa vạt xõa sương lu
Nghìn lối đi bạc trắng những sa mù
Trong ớn lạnh trở mình quên tất cả.
(Mê Cuồng Ca)

Ở bài Tóc, những ngọn triều dâng trong thể xác đã thăng hoa:

Và sẽ nuốt mây đêm đồi núi cũ
Nghe tê mê rờn rợn suốt làn da...
Trong khi đêm hờ hững phủ da ngà
Hồn ngất lịm, gục đầu trên mái tóc.
(Tóc)

Mộng giang hồ, ám ảnh cõi chết, mộ sâu... là những nét chính trong thơ anh. Y Dịch - Tay Ði, Tên Ði, Kẻ Ði. Người con trai mười lăm, mười tám ấy "ôm mộng giang hồ như Nguyễn Tuân", mà suốt quãng đời niên thiếu phải "đóng cửa nhìn ai đi bốn phương". Ðời thơ mười tám, báo mộng cho đời sau, đời mưa gió, đời làm báo, cả đời làm quan nữa.

Không biết trong thực tế, Ðiểu có đi nhiều. Nhưng thơ anh suốt đời chìm đắm trong một chữ đi:

Trót sinh mộng đã giang hồ
Phiêu linh nhạt áo ấu thơ nửa đời
(Anh Còn Ði Nữa)

Thế giới viễn du trong tưởng tượng của cậu trai hai mươi "lênh đênh mà chẳng lênh đênh biển", như một khởi hành vào gian nan, đất lạ:

Tầu nhổ neo rồi đưa người đi
Cây bờ sông xõa tóc quay về
Người đi nao nức khung trời lạ
Bỏ lại đằng sau một-cái-gì?
(Khởi Hành)

Chừng như "đi" chỉ xẩy ra trong tiềm thức, xui dại nhà thơ viết thành lời "dọa", chứ kẻ "trượng phu" thường mềm yếu, nào có dám đi, nhất là chàng sợ nhiều nỗi, nỗi em: mình em ở lại ngậm buồn, nỗi mẹ: để con đi gió vào đầy nhà ta, và chàng hứa bừa:

Mai không đi nữa đâu em
Mộng treo đầu gió, môi mềm nhớ nhung.
.....
Giấc đêm trừ tịch vô cùng
Vẳng bên tai tiếng núi sông lên đường
Ngực gầy dậy giấc quê hương
Nửa thèm đi nửa lại thương mẹ già.
(Ở Lại)

Bên cạnh nỗi "đi" là nỗi "buồn" và nỗi "chết". Bài Nỗi Buồn Câm bộc lộ phần ngạo nghễ, tráng sĩ, Kinh Kha, Dịch thủy và tiềm ẩn tiếng thở dài trong y như Y Dịch:

Ngửa mặt dang tay cười vỡ thị thành
Nghe ngạo nghễ mà sụt sùi góc phố

và "tráng sĩ" nhìn lên bầu trời để tìm một kết đề:

Trời đủ rộng cho đàn mây lạc lõng
(Nỗi Buồn Câm)

Những "phần cứng", tráng sĩ, người hùng, chỉ là vùng đất hiểm để Y Dịch cất dấu "phần mềm" như nhu ủ cương, như dương vọng âm, và chính ở vùng "nhu yếu" đó, Dịch thủy đã nhỏ những giọt đời bi quan nhất::

Bước chân chập chững đường lầy
Áo bay nửa vạt gót giầy bâng khuâng.
Ðiệu liêu trai rỏ thì thầm
Xòe que diêm lại tối tăm hơn nhiều.
(Buồn Kinh Ðô)

Sắc sầu trong thơ Y Dịch chỉ là những biến sắc, lạc sắc của cuộc đời. Vận anh hùng của cậu học trò xưa, rút lại, dù có trăm lần rút kiếm, chẳng qua cũng chỉ là kiếm nhớ để tìm sầu, ươm phần mềm trong não trạng, nuôi nấng một cõi đi về, chắt chiu một bước chân ai; nhưng dù có đôi, bầu trời cũng không sáng, không sang, không giàu hơn, ngoài một cõi cô đơn ắng lặng:

Vàng bay đỏ lối vườn sau trước
Ngơ ngác mây nằm lên đĩa trăng
(Mười Bẩy)

Và như vậy, hiện sinh chỉ là đường đi về mộ, một mình, ở đấy chờ đợi một hiện kiếp thứ nhì, vĩnh viễn hơn mà người thơ đã quen thuộc từ thuở mười tám, hai mươi:

Nằm sâu nghe điệu tạ từ
Tiếng côn trùng cũng là hư không rồi
Lửa xanh còn chút này thôi
Thắp hồn thơ sáng lướt ngôi mộ tàn
Có gì đâu chuyện thế gian
Tỉnh trăm năm vẫn trắng bàn tay mơ.
(Hiện Sinh)

Dịch đã biết mọi bôn ba, sự nghiệp rồi cũng ... vô hiệu, còn lại chăng chỉ là vô thức thơ với dăm ba chú chữ...


Tình cờ, những năm 70, chúng tôi được anh Ðào Hiệp -một bạn học Chu Văn An của nhà tôi- cho cuốn băng ghi giọng ngâm người bạn Chu Văn An cũ, anh Trân, hồi ấy đã đi tu. Giọng ngâm đặc biệt truyền cảm. Trong băng, tôi nhận ra bài Người Hàng Xóm nổi tiếng của Nguyễn Bính: Nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn... Còn bài Tốt Ðỏ, Tốt Ðen không biết của ai, mỗi lần nghe tôi đều rưng rưng nước mắt, ngậm ngùi cho giọng, cho thơ. Vẫn lại đến khi Ðiểu mất, tôi mới biết bài Tốt Ðỏ, Tốt Ðen mình đã thuộc mà không biết thơ ai, vẫn là thơ... Y Dịch. Tại sao tôi thuộc bài này? Thuộc vì giọng ngâm truyền cảm của anh học trò đã đoạn tuyệt với tục lụy? Ðúng. Nhưng còn có một cái gì khác sâu hơn, xa hơn. Người ta có thể thuộc thơ của những Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ... nhưng thuộc thơ của một người chưa in, chưa ai nói đến, không phải là chuyện ... bình thường. Phải có một cơ nguyên nào khác.

Trước hết là sự tự nhiên, vào đề trực tiếp, đối thoại của hai đứa trẻ:

- Tốt đỏ mà đè tốt đen
Kết nhất bội nhị là em phải đền.
- Ứ ừ người ta đang đen,
Không thèm chơi nữa, giả tiền tôi đây.
- Ơ ơ, bêu chửa cô này
Bị đè còn khóc giơ tay đòi tiền
...

Hoạt cảnh tam cúc đang bày ra sôi nổi, vui tươi, chí chóe, cãi nhau, giận, dỗi, dỗ dành... tự nhiên ném vào hai câu cực kỳ lãng mạn, vần hơi ép ở hai chữ sương mù lập lại, như cậu nhỏ làm thơ còn vụng:

Mưa phùn trông như sương mù
Mắt em như có sương mù đọng mi

Và từ đây là gian nan, là tan vỡ: Chiếu điều xô, cỗ bài vung vãi. Tạ từ thơ ngây để vào đời, vào mưa gió, vào thân phận:

Ván bài đời có tốt đen,
Trăm lần để kết phải đền cả trăm.

Ðắng cay vẫn giọng ca dao, sang ngang vẫn giọng lỡ bước:

Trời cho mười mấy lênh đênh
Ðời cho anh mấy điêu linh của đời.

Xa nhau trong bao nhiêu năm? Mươi năm? Mười năm? Tình cờ gặp lại nhau trong một ván bài khác, cậu bé ngày xưa đã hai mươi, vẫn còn trẻ lắm, vậy mà đã thấm nỗi đau đời:

Chiếu điều lại giải ra ngồi
Cỗ bài sắp lại, em ngồi tay trên
Tha hồ để kết tốt đen
Anh chui tốt đỏ cho em đây này.
Run run ép chặt bàn tay
Sợ làng bắt được biết ngay ... chúng mình.
Anh chui cho lấp điêu linh
Anh chui cho hết lênh đênh cuộc đời...

Bài thơ làm năm 57, ở tuổi hai mươi như để kết toán một đời người. Nay Ðiểu đã đi xa, mỗi lần nhẩm lại những khúc độ đau thương ấy, tôi vẫn hỏi Ðiểu: Thơ ông đấy à? Và như thường lệ, Ðiểu lại trả lời bằng mắt. Không xác nhận. Không phủ nhận.

Tôi lại hỏi: Sao chui sớm thế? Sao lại ra đi? Vẫn không trả lời. Không lắc. Không gật.

Nhớ trước, khi còn bà Lựu, tôi thường dặn: Bà có dzọt nhớ về báo cho cháu biết tình hình bên ấy ra sao. Lựu gật: Ừ, bà sẽ tìm cách. Nhưng từ độ Lựu đi, không thấy có tín hiệu gì. Chắc là không có cách. Anh Tạ Trọng Hiệp, hình như biết trước nên không hứa. Trước hôm đi, anh vẫn còn nhắc: Hôm nay thứ tư, không đi trông cháu vào đây làm gì? Anh vẫn giữ lễ với bạn, đạo Nho theo anh đến phút hôn mê.

Ngọc Khôi không muốn chết. Em sợ lắm. Trên gò má, trũng mắt, những cơn đau đẽo dần em. Trùng nuốt dần em. Ba tháng cuối, hầu như mỗi ngày em đều nắm chặt tay tôi vặn hỏi: tại sao em phải chết? Em chưa muốn chết. Chết là như thế nào? Làm sao trả lời Khôi được. Chị đã chết lần nào đâu. Mà chị còn phản bội em. Cầu cho em thoát nạn. Chóng đi. Chóng dứt. Em đi rồi, chẳng thấy về nói chết như thế nào. Chắc không nói được. Chắc không có lời nào nói được, là nhà văn em biết rõ giới hạn của chữ nghĩa đấy thôi. Với Ðiểu, câu chuyện hơi khác. Chúng tôi ở xa nhau. Thỉnh thoảng hỏi thăm nhau qua điện thoại. Thường là Ðiểu trấn an bạn: Thuốc đến đâu rồi. Ðau còn chịu được. Mọi việc đều đã sắp đặt xong. Nhưng âm "Rồi" mạnh mẽ, quen thuộc của Ðiểu mỗi ngày một vắng. Ngày trước, mỗi lần nhờ Ðiểu việc gì, trong điện thoại viễn liên, vang lên độc âm "Rồi" dứt khoát, là biết việc đã xong. Tôi đã gặp "Rồi" trong văn chương Bình Nguyên Lộc, rồi Võ Phiến. Ngoài đời chỉ có một "Rồi" của Ðiểu, "Rồi" sống với nghĩa, tín. Nay "Rồi" không còn vang lên nữa... "Rồi" mệt. "Rồi" sắp đi xa.

Rồi chui cho hết điêu linh
Rồi chui cho hết lênh đênh cuộc đời

Anh đi thuyền lướt vào đêm, Ðiểu ơi, chúc anh thuận buồm xuôi gió.

Nửa khuya sông bạc sa mù
Con thuyền mất hút nghìn thu khôn tìm.

Thụy Khuê
Paris 30/8/2000

© Copyright Thuy Khue 2000