Nhất Linh, Xóm Cầu Mới

Ở Nhất Linh, mỗi tiểu thuyết là một chặng đường, với Xóm Cầu Mới Nhất Linh tổng kết những chặng đường nghệ thuật và tư tưởng, đem hết kinh nghiệm sống và viết của đời mình để tạo nên tác phẩm. Ở đây không còn chủ đề, không còn đấu tranh xã hội, cũng không phơi bầy một triết lý sống nữa, mà chỉ có đời trần trụi. Ðời sống. Trong Xóm Cầu Mới, Nhất Linh đã đạt đến cái đích của tiểu thuyết mà ông mong muốn "không phải là sự diễn tả đời sống nữa, nó chính là đời sống, đời sống rung động và hồi hộp, mà không chỉ là đời sống bên ngoài mà còn là đời sống bên trong, đời sống bí ẩn của tâm hồn"(1) Nhất Linh tạo không gian nội tâm và ngoại giới của mỗi nhân vật và đi sâu vào không gian ấy như thể ông bị nhân vật lôi cuốn đi, từ Mùi, Siêu, đến những người xung quanh như Tý, Bé, Triết, Mạch, ông Lang Hàn, U già, vợ chồng bác Lê, Nhỡ, Ðỗi, Bà Chủ Nhật Trình, ông Năm Bụng, cậu Ấm, cụ Án v.v...

Nhất Linh không xây dựng nên nhân vật nữa mà chính những nhân vật dựng nên cõi viết Nhất Linh. Xóm Cầu Mới bắt đầu bằng những hàng:

Mùi sực thức giấc nhưng còn mơ màng chưa tỉnh hẳn. Tiếng gió trong lá cây, ở xa xa, không biết nàng nghe thấy thực hay chỉ là tiếng trong giấc mơ; tiếng lá loạt soạt làm nàng cảm như đâu đây có ai vừa kéo chăn đắp cho khỏi lạnh, tay nàng bất giác kéo một góc chăn phủ lên chỗ ngực để hở. Một nỗi vui lành mạnh thấm nhuần khắp thân thể và hình như người nàng vẫn vui suốt cả đêm qua, bây giờ hơi tỉnh nàng mới nhận thấy: "Ban đêm mình nằm mê thấy một chuyện gì chắc vui lắm." (Xóm Cầu Mới, Phượng Giang, 1973, in lại ở Hoa Kỳ, không đề năm, không đề nhà xuất bản, trang 13)

Nhận xét đầu tiên là tất cả những động tác của Mùi ở đây chỉ làm nổi bật phần cốt yếu là sinh hoạt tâm linh của Mùi. Hành động đáng chú ý nhất là "kéo chăn" lên đắp trên ngực, cũng không phải do chủ đích của Mùi mà là vì Mùi cảm thấy như đâu đây có ai kéo chăn đắp cho khỏi lạnh, cho nên tay nàng bèn "bất giác" kéo một góc chăn lên để đắp chỗ ngực để hở. Vậy ngay đến hành động kéo chăn lên đắp ngực của Mùi cũng là một hành động mơ hồ, như trong vô thức. Và trong 50 trang tiếp theo là hồi ức của Mùi về những việc xẩy ra hôm qua, từ khi nhận được thư Siêu báo tin sẽ về Xóm Cầu Mới, xa hơn nữa đến thời tuổi thơ của Siêu và Mùi, những giận dữ, những trò chơi và cái hôn đầu của tuổi mười ba. Rồi khi Siêu đi xa, Mùi vả tay vào dậu găng cho chẩy máu để ăn vạ v.v...

Tất cả những động tác, những ký ức và hồi tưởng chạy dài trong đầu khi Mùi nằm trên giường còn ngái ngủ. Trước Xóm Cầu Mới dường như chưa có tiểu thuyết gia Việt Nam nào sử dụng "hồi tưởng" lâu như vậy. Ở đây có một sự êm ả rất Ðông phương và một táo bạo rất Tây phương.

Tưởng tượng thêm một chút nữa, người đọc có thể thấy một mối tương quan nào đó giữa chương đầu Xóm Cầu Mới và chương đầu của A la recherche du temps perdu Ði Tìm Thời Gian Ðã Mất của Marcel Proust. Ðoạn "Một Buổi Sáng" trong Xóm Cầu Mới có gì giống như đoạn Combray của Proust, cậu bé Proust thao thức trên giường với tiếng gọi của kỷ niệm, của suy tưởng. Tất nhiên không có gì chứng minh Nhất Linh chịu ảnh hưởng Proust. Trong tập tiểu luận Viết Và Ðọc Tiểu Thuyết cũng không thấy Nhất Linh nhắc đến Proust mà ông khâm phục Tolstoi. Nhưng cách xây dựng tiểu thuyết của Nhất Linh không giống cái "không khí" Tolstoi nữa, tức là đã ra khỏi thế kỷ XIX để bước vào thế kỷ XX mà hồi tưởng, mơ mộng và ký ức được tận dụng triệt để với Marcel Proust. Nhất Linh trong Xóm Cầu Mới sử dụng hồi tưởng và ký ức như một lợi khí mới của văn học. Và nếu có mối tương quan nào giữa Nhất Linh và Marcel Proust thì chỉ ở chỗ sử dụng những yếu tố đó và chỉ ở chỗ đó mà thôi vì sự khác biệt của họ rất rõ ràng: văn phong của Proust dồn dập, nhiều dòng, nhiều trang, như một hơi thở tràn đầy âm điệu, hình ảnh, mầu sắc v.v..., Proust là người "dụng văn" trong khi Nhất Linh ngắn, gọn, đơn giản, ông chủ trương không làm văn (nữa), tức là bỏ lối viết văn chương của thời lãng mạn để trở về với lối viết nguyên thủy "có lời là vì ý, được ý hãy quên lời" rất Nam Hoa Kinh mà những nhà văn lớp sau như Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Võ Hồng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng. Riêng Võ Phiến, trong lối mô tả chi tiết và hay nhắc đến lời Nhất Linh khuyên những ai muốn viết tiểu thuyết hay đừng quan tâm tới câu văn hay (trong Viết Và Ðọc Tiểu Thuyết). Ở đây chúng ta nên để ý: lời khuyên của Nhất Linh chỉ có tính cách tương đối vì một người không theo "trường phái" Nhất Linh như Vũ Khắc Khoan vẫn được Nhất Linh cảm mến. Trở lại với cái chung giữa Proust và Nhất Linh, chúng ta thấy cả hai đều cho người đọc cái ấn tượng an lạc, hạnh phúc trong những giây phút sống lại kỷ niệm. Ở Proust là chiếc bánh madeleine chấm nước trà bất hủ. Ở Nhất Linh là dậu găng, là những cánh hoa mộc, là những chiếc bánh gai, những ngày lụt lội, những con ma ở gốc đa, ở lăng cụ Quận, những con lợn của bác Lê và những cái cốc đầu con của bác ấy. Là thằng Tý thông minh, là U già lẩm cẩm hay nói ngang phè mà có lý, là bà ký Ân Chủ Nhật Trình hay nõ mồm, mở mồm ra là "người trần mắt thịt ơi!", là ông giáo Ðông Công Ích Tin Lành vừa buôn đạo vừa buôn công phiếu. Là ông Năm Bụng giắt năm chai rượu lậu trong bụng, cụ Án bắt ruồi, cậu Ấm nói dối vợ đi bắn vịt trời để hút thuốc phiện v.v... Cái thế giới ấy đã qua như một thời vang bóng, được Nhất Linh dựng lại như một thế giới đang còn sống bây giờ, một xã hội bắt đầu nghiêng xuống, một xã hội về chiều. Tính chất nghiêng xuống ấy là nòng cốt tác phẩm. Nghiêng xuống mà không bi quan, vẫn hóm hỉnh và có hạnh phúc. Chúng ta thử đọc trích đoạn cụ Án kho cá và bắt ruồi sau đây:

Cụ Án nghiêng người nhấc cái vung nồi cá kho dứa đặt trên cái hỏa lò con nhìn vào trong nồi và hít mũi mấy cái. Lứa cá kho này cụ thấy ngon hơn mọi lần. Trong đời cụ, cụ chỉ thích nhất ăn cá kho dứa, mùa nào không có dứa tươi thì cụ nấu cá với dứa hộp và Hải đi Hà Nội mua đạn bao giờ cũng nhớ mua mấy hộp dứa biếu cụ. Ðộ trước khi cụ Án ông còn sống bắt cụ rời nhà quê lên ở trên tỉnh, cụ được nếm đủ các thứ sơn hào hải vị nhưng cá kho dứa cụ vẫn thấy ngon nhất. Cá kho ăn lại đỡ tốn, mỗi miếng cá bé tý cũng ăn được bao nhiêu là cơm. Biết tính cụ nên có ai biếu cụ là biếu cá và phải là cá còn tươi nguyên. Cụ tự tay kho lấy và kho xong thì cụ treo ngay trên giường cụ ngồi, vừa tầm tay với.
Cụ đậy vung nồi và tay lại cầm lấy cái que đập ruồi. Chỉ trừ lúc giã trầu ở cối, còn thì lúc nào tay cụ cũng cầm que đập ruồi. Cụ ghét và sợ ruồi lắm. Nhưng ở chung quanh chỗ cụ ngồi thì lại có đủ các thứ để nhử ruồi đến thật nhiều; ngoài nồi cá, lại có những xâu cá mắm, những chai mật ong và những quả chuối bao giờ cũng chín đen chín nát. Vì cụ bại một chân đi phải chống nạng nên ít khi cụ đi lại. Giang sơn cụ và cả đời cụ vì thế thu hẹp trong phạm vi cái giường cụ ngồi. Tất cả những thứ gì cụ cần dùng đều để ở trên giường và ở cái tủ chè cạnh giường. Chỉ trừ có số tiền cụ để dành được là cụ dấu ở chỗ khác.
Vì cụ không đi lại được nên chỉ đánh được những con ruồi ở trên giường. Ðể bắt ruồi chung quanh giường cụ nuôi cò ruồi, nhưng con cò không được bắt ruồi trên giường. Có con ruồi nào vừa bay đến đậu trên chiếu mà con cò định mổ thì cụ đã nhanh tay đập trước; đập xong cụ hất ruồi xuống đất cho cò ăn. Lần nào con cò nhanh hơn mổ cướp của cụ một con ruồi trên chiếu là cụ lấy cán que đập ruồi đập vào đầu con cò một cái để phạt nó hỗn. Có một con cò lâu dần hiểu được chỗ đó nên không bao giờ mổ tranh ruồi của cụ; cụ thích lắm và khoe với tất cả mọi người, nhưng sau con ấy bị chó cắn chết mất. (trang 288, 289, sđd)

Qua những hàng trên đây, Nhất Linh đã viết nên những nét bi hài của một cụ Án về già, của một thời đã mất, từ một cụ Án bà quyền quý, có thể đã có thời dựa vào uy thế cụ ông, hét ra lửa, vậy mà bây giờ giang sơn cụ thu hẹp lại còn có cái giường, mà cũng không phải cả cái giường, các thứ lủng củng chiếm đến nửa, phần còn lại cụ ngồi chung với ruồi, cụ đập ruồi, tranh với cò, bên cạnh nồi cá kho, xâu cá mắm ... Hoàn cảnh cụ không khác gì lắm với gia đình bác Lê, những ngày nước lên phải ngủ chung với lợn. Nhưng cảnh cụ còn đau thương hơn, vì cụ có con cò tâm đắc nhất thì nó lại bị chó cắn chết.

Không thể biết rõ Xóm Cầu Mới ở vào thời nào, chỉ biết mang máng như là khoảng nửa đầu thế kỷ XX, mang máng bản đồ Xóm Cầu Mới giống bản đồ huyện Cẩm Giàng, Nhất Linh cố ý làm bàng bạc thời gian, tạo nên tính chất vô định của tất cả những thời đại đang suy tàn. Mà thời đại nào rồi cũng phải suy tàn, như câu thơ của Vũ Ðình Liên những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ. Ðó là lý do tồn tại của những kẻ như Proust, như Nhất Linh mải đi tìm thời gian đã mất.


Viết Xóm Cầu Mới, Nhất Linh đã sử dụng tất cả những kinh nghiệm viết của mình, những kinh nghiệm mà ông đã ghi lại trong cuốn tiểu luận Viết Và Ðọc Tiểu Thuyết. Nhưng đó không phải là cốt yếu. Ðiều cốt yếu là Nhất Linh đã tạo dựng lại một thời đã mất và làm chúng bất tử với những nhân vật đang sống, đang suy nghĩ, với những thèm muốn, những tính toán, những hồn nhiên của họ, tạo ra mối tương quan giữa con người với nhau cũng như những tương quan giữa những cô đơn với nhau. Xóm Cầu Mới là một xã hội có giai cấp mà lại như không còn giai cấp, các giai cấp đã lộn tùng phèo, chỉ có tương quan giữa người và người: giữa hai bác Lê và thằng Tý, tương quan giữa cụ Án và những con ruồi, con cò, nếu có thể nói ruồi, cò cũng là người, so với một cụ Án đã hoàn toàn mất địa vị. Giữa Mùi và U già, U già luôn luôn ở thế mạnh hơn Mùi, tương quan giữa Bé và Ðỗi, tương quan giữa bác Lê gái và bác Lê trai, v.v... và trong những tương quan ấy, phái mạnh, hay phái khỏe, thường có vẻ kém thế trước phái yếu ... Nhất Linh tạo ra những cái tên, những khuôn mặt như bà Chủ Nhật Trình, ông Năm Bụng, ông giáo Ðông Công Ích Tin Lành ... như một khởi thủy, vì trước ông, chưa thấy ai đưa ra một "hệ thống" đặt tên như thế và sau ông, có những ông Ba Thê Ðồng Thời, anh Bốn Thôi, ông Bốn Tản, chị Bốn Chìa Vôi ... của Võ Phiến, đó là một nối tiếp "truyền thống" Nhất Linh, hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Có điều rằng trong những tác phẩm đầu của Võ Phiến, chưa thấy xuất hiện cách đặt tên như vậy. Nếu có một sợi dây liên hệ giữa Nhất Linh và các tác giả đến sau thì không chỉ dừng ở mức đặt tên mà còn ở cả lối mô tả nhân vật, như bà Chủ Nhật Trình luôn luôn mở miệng ra là "người trần mắt thịt ơi". Cách xác định cá tính nhân vật bằng một nét cố hữu này Nhất Linh đã chịu ảnh hưởng của Tolstoi và có lẽ từ Nhất Linh, Nhật Tiến đã tìm được cách mô tả nhân vật cực kỳ sống động trong Thềm Hoang với những cô Huệ mở mồm ra là "khỉ gió đùng lăn!", cô Ðào mở mồm là "khắm chửa!".

Nhất Linh không chỉ ảnh hưởng đến những người đến sau bằng cách đặt tên, hoặc sống động hóa nhân vật mà còn ở cả lối nhận xét chi li, và nhất là cách mô tả toàn cảnh bằng một chi tiết mà sau này người đọc cũng tìm thấy lại trong các tác phẩm của Võ Phiến, Võ Ðình. Biện pháp hoán dụ này chỉ dùng một chi tiết va chạm thể xác như đụng chạm ngón tay, bàn chân hoặc đôi khi không đụng chạm mà chỉ nhìn trộm hoặc dùng khứu giác để miêu tả những mãnh liệt của nhục cảm trong đầu các nhân vật. Nhất Linh đã dùng thủ pháp này từ Bướm Trắng trong hai xen độc đáo: Trương nhìn trộm bàn tay của Thu trên tấm chăn và Trương với chiếc áo cánh của Thu úp vào mặt. Trong cả hai xen đều không có "công-tắc" thể xác trực tiếp, nhưng Nhất Linh đã diễn tả một cách tuyệt vời lòng ham muốn và động lực tính dục trong con người. Ở Xóm Cầu Mới, biện pháp này còn đa dạng hơn nữa, Nhất Linh đưa ra rất nhiều xen để mô tả cái tính "đĩ ngầm" của Mùi: Mùi "ngủ" với lá thư của anh Siêu, Mùi quất tay vào dậu găng cho chẩy máu, hai lần Mùi rửa chân với anh Siêu ở hai "nồng độ" khác nhau, mưa lụt, Mùi bắt anh Siêu bế, Mùi nằm đắp chăn trên giường của anh Siêu, .... Hoặc Ðỗi dẫm lên chân Bé (để tỏ tình), ông Giáo Ðông "cầm nhầm" cái khăn che mắt của Bé lại hí hửng tưởng là khăn mùi-xoa của Mùi, chỉ có Nhỡ là yêu Mùi thầm kín nhất ... Ở Xóm Cầu Mới Nhất Linh đã trình bầy những dạng thức biểu lộ tính dục của con người, tùy theo giai cấp, một cách nhuần nhuyễn và đa dạng và chắc chắn là những người tinh tế viết sau ông đã tìm được những ảnh hưởng đích đáng.

Nhục cảm (sensualité) là một đề tài khó viết, khó nói, viết dở sẽ trở thành thô, viết hay, xưa nay chưa có nhiều nhà văn đạt được. Nhất Linh đã vượt được giới tuyến này bằng những thủ pháp nguyên thủy.

Chuyện đôi con dì yêu nhau là một sự loạn luân cấm kỵ. Vậy mà Nhất Linh đã phiêu lưu vào thế giới cấm kỵ ấy một cách thản nhiên, bình dị trong Xóm Cầu Mới. Một Nhất Linh hoàn toàn tự do, biết mình nắm trọn mọi nhu yếu cần thiết của kỹ thuật và nghệ thuật viết văn, biết mình có thể vững vàng ở những khoảng trời bão táp. Nhất Linh đưa hết sở trường của mình vào tác phẩm. Xóm Cầu Mới đi từ chân dung người con gái tên Mùi, chân dung ấy phát xuất từ điểm: Mùi tỉnh dậy, sau một đêm hạnh phúc ngủ chung với lá thư của Siêu, người anh họ, Siêu vừa gửi thư báo cho nàng biết sẽ về ở chung với gia đình Mùi. Nhất Linh, trong những trang đầu, đã đưa ra táo bạo thứ nhất: "Mùi nằm ngủ một đêm với bức thư của anh Siêu". Ðó là nhục cảm đầu đời của Mùi như một Eva ăn trái cấm. Và từ đó phát xuất cá tính của Mùi, một cô gái quê, con một cụ Lang, sống hồi đầu thế kỷ. Mùi có quán bán nước, bán thuốc, bán bánh cuốn, bán gạo. Mùi là hình ảnh cô gái quê tần tảo, một bà Tú Xương tương lai, một cô hàng xén trong truyện của Thạch Lam hay cô hàng xóm trong thơ Nguyễn Bính. Ðó là phần hình thức. Về mặt tư tưởng, Mùi táo bạo hơn nhiều. Mùi mới hơn cả Loan trong Ðôi Bạn, Ðoạn Tuyệt, khác hẳn Nhung trong Lạnh Lùng, và có lẽ còn mới hơn nhiều cô gái tỉnh thành thời nay. Nàng dám để cho nhục cảm dẫn dắt, không lúc nào Mùi thấy có mặc cảm hoặc tự kiềm chế. Mùi biết tình yêu của nàng với Siêu là cấm kỵ:

"Mặc dầu Siêu với nàng là đôi con dì không lấy được nhau nhưng cái mãnh liệt của tình yêu ấy không mảy may làm nàng sợ hãi; nàng lại thấy mừng không ngờ mình yêu đến thế. Nàng đón lấy nó như hiện giờ này nàng đón lấy cơn gió lạnh sắc đương quất vào hai bên má. (trang 19, sđd)

Trong Văn Học Việt Nam ít có cô gái quê nào tự do như Mùi. Có thể có cô Huệ trong Thềm Hoang của Nhật Tiến. Nhưng cô Huệ nửa tỉnh nửa quê. Mùi tự do và biết mình tự do vì Mùi tạo nên hoàn cảnh mà không phải chạy theo hoàn cảnh. Tình yêu của Mùi và Siêu đậm dấu ấn thể xác nhưng lại là thứ thể xác não thùy, phát xuất từ tình yêu nguyên thủy, xẩy ra ở trong óc nên không thể phạm tội. Không riêng về tình yêu nhục dục mà tất cả những nhân vật hay những bối cảnh mà nhân vật tạo ra trong Xóm Cầu Mới, đều ít nhiều nằm trong trạng thái nguyên thủy. Ví dụ về trí thông minh của thằng Tý, Nhất Linh cũng đi từ những nhận xét nguyên thủy: tại sao lại biết nó thông minh mà mẹ nó lại cho nó là ngớ ngẩn? Tại vì mới chín tuổi nó đoán được ý bố nó, nó đoán được ý con lợn, nó tìm những giải pháp lô-gích đo quần áo mà mẹ nó không nghĩ ra v.v... Tình yêu của Ðỗi và Bé cũng là một tình yêu nguyên thủy: Cặp trai gái làng này tỏ tình bằng cách dẫm chân lên nhau, rồi những ngón chân ấn lên một tý, mỗi lần ấn là một lần tăng nồng độ tình yêu. Nỗi buồn của Triết, em trai Mùi, cũng là nỗi buồn nguyên thủy, Mùi không biết tại sao em mình hay ngồi buồn, cả đến việc chơi bươm bướm của Triết, Triết chơi với những con "bươm bướm ma", và đó lại là một lối chơi buồn mà chính Triết cũng không biết là mình buồn. Tính lẩm cẩm của U già cũng là một thứ lẩm cẩm nguyên thủy: Thật ra U già không lẩm cẩm, u còn lô-gích nữa là khác, nhưng nhà vắng quá, thỉnh thoảng Mùi phải tìm cách cãi nhau với U già cho có tiếng nói, và U già mỗi lần thấy Mùi gắt là u lại nói ngang phè. Bác Lê mỗi lần say rượu đánh vợ, đánh con, cũng là những cơn say nguyên thủy, bởi bác biết trước là uống rượu vào sẽ đánh vợ đánh con, nhưng bác không thể tránh được, bác cố nhịn, nhưng đến phút chót cái thèm vẫn ăn đứt bác và bác lại chịu thua cái thèm ...

Trong Xóm Cầu Mới, Nhất Linh đã đưa ra những con người trong trạng thái nguyên thủy. Nhất Linh tìm đạt đến cối rễ của cá tính, của bản ngã, như thể ngòi bút của ông đã là nhân vật; rồi lại chính nhân vật đã đưa ngòi bút đi để tạo nên những cuộc đời chưa thành hình. Xóm Cầu Mới là tác phẩm dang dở, hình như Nhất Linh mới viết được có một phần ba, cũng là một tác phẩm chưa thành hình. Ngòi bút vừa xây nên nhân vật vừa từ nhân vật đi ra, tự nhiên như không phải tả gì cả. Có thể là Nhất Linh đã tìm được nguồn cội của hành vi và cảm giác của mỗi con người và có lẽ đó là sự thành công sâu sắc nhất của Nhất Linh.

Paris, tháng 5/2002
Thụy Khuê


(1) Viết Và Ðọc Tiểu Thuyết, Nhất Linh, nhà xuất bản Ðời Nay, 1969, trang 69, câu này Nhất Linh trích từ lời của một nhà phê bình viết về cuốn Anna Karénine của Tolstoi, mà Nhất Linh cho là một mẫu mực của tiểu thuyết.

© Copyright Thuy Khue 1996, 2002