Ý thức thoát ly trong Ðôi Bạn
Gió lên! Gió nữa lên!, Gió lên! Lạy trời gió lên! Những lời cầu nguyện của hai chị em đứa bé nhặt lá bàng trong đêm khuya vang lên như một nguyện cầu giải thoát, báo hiệu ý thức thoát ly trong Ðôi Bạn. Gió lên! Gió nữa lên! cho lá lìa cành, cho chị đầy thúng, cho em đầy rổ, để chị bó lá đem bán, rồi lá khô sẽ hóa thân trong lửa đỏ, sưởi ấm lòng người, nuôi sống những đứa trẻ nhặt lá vàng trong những đêm gió lộng. Gió lên! Gió nữa lên! trên bến đò gió và bến đò đời.
Nhất Linh mở đầu Ðôi Bạn (1) bằng bài Nhặt lá bàng thay lời tựa, với hai bối cảnh: Một tôi, nhà văn Nhất Linh bất động trước tờ giấy trắng sao trắng thế. Chữ cứ bặt vắng. Bỗng một tiếng bật ra: "Trời muốn trở rét" và ngòi bút chạy... trong khi bên ngoài có tiếng khác cất lên: Gió lên! Gió nữa lên! hai đứa trẻ cầu trời cho gió lên, chúng chạy lăng quăng, nhặt, bó, nhặt, bó, con chị mắng thằng em, tiếng chúng vang trong đêm khuya cùng tiếng lá rơi, chạm vào tường, lăn xuống đất. Chuyện thật ngoài đời, chuyện đời trên giấy, cả hai không liên hệ gì với nhau nhưng cùng gặp nhau trong đêm nay. Những đứa bé ấy có thật không? Hay chỉ là tưởng tượng của Nhất Linh? Cả Dũng nữa? Dũng, người bạn đã có lá thư tha thiết yêu cầu Nhất Linh viết về đời mình, một đời mà Dũng cho là "những nỗi đau khổ, băn khoăn của tôi, hẳn cũng là những nỗi băn khoăn của anh, của các bạn chúng ta" (Nhặt lá bàng). Dũng có thật không ? Hay cũng là tưởng tượng? Nhưng có một điều chắc chắn phải thật: đó là động cơ nào đã thúc đẩy cuộc đời và tưởng tượng xích lại gần nhau? Ðộng cơ nào đã gọi những tiếng vang trong tiềm thức Nhất Linh, tiếng đứa bé, tiếng Dũng, tiếng Loan, tiếng đôi bạn, tiếng các bạn cùng cất lên trong tác phẩm như một hợp âm những hình ảnh, những cảm xúc, khổ đau, hạnh phúc của cuộc đời? Ðộng cơ ấy phải là gió. Gió như một yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ và rét đến như một trợ lực: Trời muốn trở rét. Gió, rét đã nhiều lần đến, rồi đi, nhưng chỉ có hôm nay, lúc này, chúng tạo thành một giao hưởng của hiện tại và dĩ vãng: cả hai cùng cầu gió, bởi không có gió thì lá không rụng mà có gió trời lại rét lắm, gió đem đến chia ly, gió tạo ý thức thoát ly, gió cuốn nơi này đến nơi kia, gió làm vật đổi sao rời, gió gây nghịch cảnh; tiểu thuyết và cuộc đời xoay quanh cái trục nghịch cảnh ấy: vừa mong gió, vừa ngại gió bởi gió đem rét mướt, gió sẽ chia lìa, nhưng nếu không có gió thì buồm chẳng đi xa, chẳng có thoát ly, chẳng có gì báo hiệu cho hành trình ... đôi bạn.
"Anh phải sống vượt ra ngoài xã hội bình thường" câu nói và cũng là lời tự nhủ này của Dũng, trong Ðôi Bạn như thể từ miệng Khái Hưng nói ra; Dũng, con một ông tuần phủ và đời Dũng hình như có cái gì rất giống đời Khái Hưng "Tôi sinh ra đã phải chọn một sự bất công là sống trong cảnh giàu sang không đích đáng, tôi không có quyền hưởng, tôi không muốn hưởng". Những người bạn Dũng cũng có những nét giống Khái Hưng, và con đường họ đi, cái chết của họ cũng bí mật không khác gì cái chết của những Khái Hưng, Hoàng Ðạo, ... cuộc đời họ hình như chỉ là "một sự tìm kiếm không bao giờ ngừng". Dũng là một mẩu Khái Hưng hay cả Khái Hưng? Dũng là một mẩu Nhất Linh hay cả Nhất Linh? Ðôi bạn Dũng Trúc phải chăng là "đôi bạn" Nhất Linh-Khái Hưng? Rồi Dũng/Loan có phải là Trương/Thu trong Bướm Trắng, Triết/Thoa trong Hai Buổi Chiều Vàng, Thanh/Ngọc trong Giòng Sông Thanh Thủy, Nghĩa/Nhung trong Lạnh Lùng, Siêu/Mùi trong Xóm Cầu Mới? ... Những nhân vật tiểu thuyết của Nhất Linh, nói theo ngôn ngữ bây giờ, có một quan hệ "liên văn bản" với nhau, với thời cuộc và với chính tác giả. Họ cùng có một ý chí "muốn vượt ra ngoài hoàn cảnh sống của mình". Muốn thoát ly. Thoát ly gia đình. Thoát ly xã hội. Thoát ly cuộc đời. Những nhân vật của Nhất Linh dù là bạn thân hay bạn tình, đều chỉ gặp nhau trong một thời gian, không sống trọn đời với nhau, không là bạn đời, bởi Nhất Linh cũng như Khái Hưng, không tin có một thứ hạnh phúc kéo dài trọn kiếp. Lan và Ngọc của Khái Hưng trong Hồn Bướm Mơ Tiên đã "khai trương" thế giới "đôi bạn" và tất cả những "đôi bạn" của đôi bạn Nhất Linh-Khái Hưng đã tạo nên một thế giới sống ngoài cuộc sống, trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn. Thế giới này vừa phản ảnh những suy tư, trăn trở của thế hệ thanh niên những năm 30-40, vừa phản ảnh những chao đảo xã hội thời Pháp thuộc, những đụng chạm cũ-mới, những nỗi đau của lựa chọn làm quan hay làm cách mạng? Ở hay đi? Ðó là những đoạn trường cô đơn và hạnh phúc. Ðời họ, Nhất Linh tóm gọn: "Ðời bọn ta, một bọn sống ở trong một xã hội đương thay đổi có những nỗi đau khổ chung, mà oái oăm thật những nỗi đau khổ lại là những nỗi vui độc nhất của chúng ta bấy lâu" (Nhặt lá bàng).
Dũng muốn thoát ly gia đình vì chàng không thể sống mãi trong cảnh giàu sang của gia đình mà chàng biết là không chính đáng và "hễ cứ lúc nào chàng dịu lòng để cố tìm cách yêu cha thì chàng lại đau xót thấy những hành vi tàn ác của ông tuần mà chàng tưởng đã quên hẳn rồi, hiện ra như bức rào ngăn cản" (trang 188). Thấy những bộ mặt khốn khó của dân làng, những người túng quẫn, cùng khổ, bị ông tuần đánh, chửi, Dũng khó chịu vì những người bị đánh không kháng cự, mà trái lại, còn nói nịnh: "Bẩm, cụ lớn đánh là cụ lớn thương, hôm thượng thọ cụ cố, cụ lớn cầm đầu con rập vào tường [...] Thế mới biết cụ lớn còn khỏe." (trang 98). Dũng muốn bênh vực họ nhưng rồi cuối cùng "chàng nhận thấy ông tuần và những người dân trong làng có liên lạc mật thiết với nhau [...] chàng thấy chàng trơ vơ đứng riêng hẳn ra ngoài" (trang 186). Cái thế giới phản kháng, chống lại mọi áp bức mà Dũng mong muốn, không có trong đầu óc dân làng. Họ yên phận chịu nhận số kiếp yếu kém "từ đời kiếp nào rồi". Mối tương quan đàn áp và chịu đàn áp giữa ông tuần và họ là một tương quan mà Dũng không cắt nghĩa được. Dũng thấy mình ngoại cuộc, ở đây không ai cần Dũng, bởi cuộc đời không cần những Don Quichotte. Những nhận thức ấy đã dẫn đến quyết định: "Chàng cầm dao cắt mạnh quả hồng làm đôi ...(trang 189), "giản dị như không ... phải đoạn tuyệt hẳn mới gọi là đi ... Chàng muốn được như con bướm thoát khỏi cái kén tối tăm" (trang 190). Nhưng thoát ly không có nghĩa là tìm ra một lý tưởng. Bởi Dũng biết chắc là không có lý tưởng, khi Thái đi, Dũng đã tự hỏi: "Anh Thái đi như vậy để làm gì? Chẳng qua không biết làm gì nữa thì liều lĩnh" (trang 31) và "Dũng có cái cảm tưởng rằng Thái đi như là đi thay cho mình, hình như tất cả những nỗi chán chường, đau khổ của một đời mình, Thái đã đem theo hết" (trang 32). Và chính trong những giây phút băn khoăn, chưa dứt khoát lựa chọn, Dũng biết là mình "phải sống một đời ngang trái nhưng chàng không có đủ can đảm để thoát ly; mà thoát ly rồi, cái đời tương lai của chàng sẽ đại khái như đời của Thái và Tạo, hai cảnh đời mà trước kia mới nghĩ đến chàng đã thấy buồn nản vô cùng" (trang 158).
Dường như cuộc đời "quằn quại" của Thái, cũng là cuộc đời Nhất Linh, Khái Hưng và những người bạn của họ: Chống Pháp? Không chống Pháp? Theo Việt Quốc? Việt Cách? hay Việt Minh? tất cả rồi cũng chỉ là để "Thỉnh thoảng lại nghe tin một người trong bọn chết đi hay bị tù tội, rồi ai nấy, trước số mệnh, chỉ việc cúi đầu, yên lặng, nơm nớp đợi đến lượt mình" (trang 106).
"Cái chết của Thái đối với Dũng chỉ là một sự thoát ly" (trang 105). Hoặc như Tạo chấp nhận cái chết một cách vui vẻ "Tôi không sợ chết đâu [...] đất mát lắm" (trang 149). Cả những người bạn của Tạo cũng nghĩ "kể như anh ấy thì chết là thoát" (trang 167).
Tóm lại, ra đi không phải để tìm đến một lý tưởng cách mạng mà Dũng biết chắc là ra đi rồi sẽ chết như Phương, như Thái, như Tạo ... "như biết bao người bạn của Dũng [...] vụt biến đi không để lại một vết tích gì." (Nhặt lá bàng). Ở thời điểm 1936, khi Nhất Linh viết Ðôi Bạn, mọi người chưa kịp lên đường và sau đó thì mọi lên đường được tôn thờ như một lý tưởng cao quý nhất, Nhất Linh đã xác định không có lý tưởng và mọi ra đi, thoát ly, chỉ là "đi tìm kiếm, sự tìm kiếm không bao giờ ngừng ấy, có lẽ là sự an ủi độc nhất" (Nhặt lá bàng).
Và cái việc tìm kiếm ấy, Nhất Linh đã đi hết cuộc đời mà chưa tìm thấy, những trăn trở lựa chọn giữa cách mạng và văn học, giữa xuất thế và nhập thế... dùng dằng nhau trong Nhất Linh đến giây phút cuối và bây giờ chúng vẫn còn dầy vò thế hệ sau Nhất Linh.
Thoát ly còn do một trăn trở khác, đó là sự từ chối một thứ hạnh phúc "trường cửu" trong tình nghĩa vợ chồng, với người không yêu như Khánh, hoặc với người yêu, như Loan.
Ở lại, trước hết là sẽ phải cưới cô Khánh, con cụ Thượng Ðặng, người vợ môn đăng hộ đối mà cha đã chọn và sẽ phải chấp nhận đời sống "thừa" như Trường và Ðính, hai anh và như "tất cả mọi người trong nhà, trong họ, thảy đều sống bám vào một mình ông tuần và cho thế là một sự tự nhiên, một cái phúc" (trang 87).
Nhưng ở lại còn có thể có một con đường khác là làm trái lời cha, cưới Loan làm vợ. Làm trái lời cha không khó vì xưa nay Dũng vẫn làm, cái khó là làm trái lòng mình, bởi đã bao lần khi nghĩ đến "chàng sẽ cưới Loan làm vợ ... rồi suốt đời hai người gần nhau, yêu nhau mãi mãi ... Thế rồi sau làm sao? Lại ngày nọ tiếp ngày kia ... không chờ đợi." (trang 48-49). Chính "ý nghĩ chán nản này", xuất phát từ nội tâm của Dũng "làm bận trí Dũng một cách ác nghiệt" (trang 63), đã gián tiếp chỉ đạo sự thoát ly của Dũng.
Ở buổi mà mọi "hoài nghi" về cuộc sống chưa có chỗ đứng vững chắc trong văn chương Việt Nam, Nhất Linh, Khái Hưng lại "đem lòng" hoài nghi hạnh phúc, thứ hạnh phúc vợ chồng trọn đời được "công nhận" như một "giá trị phổ quát của nhân loại", cũng như đã hoài nghi lý tưởng đấu tranh khi mọi người chưa kịp lên đường. Nghi ngờ hạnh phúc "trăm năm" nhưng không chối bỏ hạnh phúc mà tin vào một thứ hạnh phúc khác, ra ngoài thông lệ: đó là những giây phút hạnh phúc và những giây phút sống lại những giây phút hạnh phúc ấy. Những giây phút hạnh phúc sẽ qua đi, nhưng sự sống lại chúng trong con người là trường cửu, là mãi mãi, là vượt ra ngoài ý muốn của con người; chúng bất tử và không có sức mạnh nào diệt nổi. Và đó là điều mà Nhất Linh đã ghi lại trong tiểu thuyết như một quan niệm độc đáo về hạnh phúc và là cơ nguyên của sáng tạo.
Cái hạnh phúc ấy có sẵn ở trong mỗi người, kể cả những người không có hạnh phúc: đó là những giây phút ngắn ngủi của cảm xúc, của những linh cảm hạnh phúc, của đợi, của chờ, của nhớ, của nghĩ đến người mình nhớ, mong người ấy nhớ mình hơn là mình nhớ người ấy ... Những linh cảm ấy thường đến trong yên lặng, cho nên những trang đẹp nhất mà Nhất Linh viết về tình yêu, về sự tỏ tình là ... yên lặng. Tình yêu không diễn tả bằng lời mà bằng mắt, bằng tim: Nhất Linh thao túng "yên lặng" trong một thế giới mới, thế giới của cảm xúc, thế giới thần bí mà mọi sự đều khả thể.
"Dũng vòng hai tay ra phía sau làm gối ngửa mặt nhìn lên. Ánh nắng trên lá thông lóe ra thành những ngôi sao; tiếng thông reo nghe như tiếng vọng ra, đều đều không ngớt; Dũng có cảm tưởng rằng cái tiếng ấy đã có từ đời kiếp nào rồi nhưng đến nay còn vương lại âm thầm trong lá thông.
Không nghe tiếng Loan và Thảo nói chuyện nữa, Dũng nghiêng mặt quay về phía hai người. Chàng thấp thoáng thấy hai con mắt đen của Loan. Thấy Dũng bắt gặp mình đương nhìn trộm, Loan vội nhắm mắt lại làm như ngủ; song biết là Dũng đã trông thấy rồi, nàng lại vội mở mắt ra, rồi qua những ngọn lá cỏ rung động trước gió, hai người yên lặng nhìn nhau." (trang 209-210)
Nhất Linh đã "vớt" từ yên lặng ra những âm thanh và màu sắc. Âm thanh và màu sắc của ánh nắng chiếu trên lá thông "lóe" ra thành những ngôi sao. Nhạc của tiếng thông reo từ đời kiếp nào còn vương lại âm thầm trong lá thông; nhạc và tranh hòa hợp cùng những trao đổi giữa hai người qua ánh mắt. Và đó là hạnh phúc. Hạnh phúc ở những giây phút mình yên lặng nghe mình: "Chàng cố ngồi thật yên lặng để hoàn toàn nghĩ đến cái vui sướng của lòng mình" (trang 63).
Nhưng hạnh phúc không chỉ là những giây phút vui sướng, hạnh phúc còn có thể ở cả những nỗi buồn, ví dụ như nỗi buồn của nhận thức về bản chất cuộc đời:
"Dũng châm một điếu thuốc lá hút rồi đưa mắt ngắm nghía đám người nhà quê thảm đạm, quấn áo xơ xác trước gió, đương đứng đợi bên bờ sông. Họ đứng yên, không nói, vẻ mặt bình tĩnh, không nghĩ ngợi gì; chuyến đò mà họ đợi sang, Dũng thấy là hình ảnh của cả cuộc đời; họ sinh ra, sống thản nhiên ít lâu, không hiểu vì cớ gì rồi lại khuất đi như những người bộ hành, một buổi chiều đông, qua bến đò, in bóng trong chốc lát trên dòng nước trắng của cuộc đời chảy mãi không ngừng.
Dũng ngẫm nghĩ:
- Buồn có lẽ vì tại trông thấy bến đò, mình như thấy rõ hình ảnh cuộc đời. Sống mà nghĩ đến mình sống thì bao giờ cũng buồn [...] Bến đò không buồn lắm, buồn nhất là những cái quán xơ xác của các bến đò. Mình là những cái quán ấy, đứng yên trong gió lạnh nhìn cuộc đời trôi qua trước mắt." (trang 71)
Sống mà nghĩ đến mình sống thì bao giờ cũng buồn, mình là những cái quán đứng yên trong gió lạnh, nhìn cuộc đời trôi qua trước mắt, những nhận thức này có thể chỉ qua một lần rồi mất đi, nhưng nó không chết hẳn, nó có khả năng sống lại, và sự hồi sinh ấy thường xẩy ra ở những lúc bất ngờ nhất: một ngọn gió, một mùi hương, một bến đò ...
Do đó, hạnh phúc ở đây vừa trực tiếp, vừa gián tiếp. Trực tiếp là những giây phút sống trong thực tại: nhìn (một người) yêu, ngắm (một đóa) hoa, đợi (một ngọn) gió, đón (một mùi) hương ... Và gián tiếp là những lúc nhớ lại những giây phút kỷ niệm của những nhìn, ngắm, đợi, đón, ... đó, những giây phút ngắn ngủi mà nhà văn muốn giữ lại mãi mãi:
"Mùi hoa khế đưa thoảng qua, thơm nhẹ quá nên Dũng tưởng như không phải là hương thơm của một thứ hoa nữa. Ðó là một thứ hương lạ để đánh dấu một quãng thời khắc qua trong đời: Dũng thấy trước rằng độ mười năm sau, thứ hương đó sẽ gợi chàng nhớ đến bây giờ, nhớ đến phút chàng đương đứng với Loan ở đây. Cái phút không có gì lạ ấy, chàng thấy nó sẽ ghi mãi ở trong lòng chàng cũng như hương thơm hoa khế hết mùa này sang mùa khác thơm mãi trong vườn cũ." (trang 26)
Có thể nói rằng Nhất Linh đã tìm ra một thứ "định thức" của hạnh phúc, ở đây là mùi hương+trí nhớ=hạnh phúc, nhưng những yếu tố của vế đầu tiên có thể thay đổi không ngừng, một chỗ khác, Nhất Linh viết:
"Nền trời lúc đó, Dũng thấy như một tấm lụa trong; một con bướm trắng ở vườn sau bay vụt lên cao rồi lẫn vào màu trời. Dũng tự nhiên nghĩ đến một bãi cỏ rộng trên đó có Loan và chàng, hai người cùng đi ngược chiều gió; nàng mặc một tấm áo lụa trắng và gió mát thơm những mùi cỏ đưa tà áo nàng phơ phất chạm vào tay chàng êm như cánh bướm." (trang 45)
Lại một định thức khác của hạnh phúc: thiên nhiên+tưởng tượng=hạnh phúc. Như vậy hạnh phúc là một định thức biến thiên không ngừng, từ những dư âm hoàn toàn khác nhau, khi biết hòa âm phối khí thì ta có ... hạnh phúc. Hạnh phúc, như thế, là sự hòa hợp của âm thanh trong âm nhạc, là sự điều phối của màu sắc trong hội họa, là sự ngẫu hợp của chữ nghĩa trong thi ca. Nhưng điều thiết yếu là những định thức biến thiên ấy cần những chất xúc tác như mùi hương, ngọn gió ...
Nhất Linh tinh tế bao nhiêu trong nhận thức thì ông cũng lại càng thực tế bấy nhiêu trong cái biết của mình: Biết "hạnh phúc" cũng như "nghệ thuật" chỉ là những hợp âm dễ vỡ, dễ tan, không thể nắm bắt được, tựa như: "Những con đom đóm bay qua ao bèo, lúc tắt lúc sáng như những ngôi sao lạc biết thổn thức" (trang125).
Hạnh phúc phải chăng là những con đom đóm trong đêm? Hay là tà áo của Loan, chạm vào tay Dũng như những cánh bướm? Có lẽ cả hai. Một điều chắc chắn là hạnh phúc nằm trong khoảnh khắc và cái khoảnh khắc bí mật ấy, luôn luôn, Nhất Linh muốn níu nó lại: "Dũng có cái cảm tưởng rằng thời khắc ngừng hẳn lại; ánh nắng lấp lánh trên lá cây cũng thôi không lấp lánh nữa ... Chàng và cảnh vật chung quanh như không có nữa, chỉ là một sự yên tĩnh mông mênh, trong đó tiếng Loan vang lên." (trang 61), "không còn phút sau nữa: thời gian ngay lúc đó sẽ ngừng lại mãi mãi" (trang 63). Thời gian sẽ ngừng lại. Ðó là ước vọng của Dũng. Nhưng thời gian chưa bao giờ ngừng lại và đó là bất hạnh của hạnh phúc. Khiến mọi sự liên tục trường cửu đều trở nên đáng sợ và vô nghĩa: đóa hoa không trường cửu, cánh bướm không trường cửu, đến cả thân phận con người cũng phù du ... Như vậy có gì trường cửu trên cuộc sống này? Hẳn là sự trường cửu của những phút giây hạnh phúc, chết đi và sống lại trong ký ức. Mỗi lần hồi sinh chúng lại là những cánh bướm đã thoát xác, đã đổi dạng thay hình ... Cho nên nếu muốn có những luân hồi của kỷ niệm thì phải sống xa người tình, sống ngoài kỷ niệm, phải xa bến đò Gió thì mỗi lần đến một bến đò, mới hồi tưởng lại và gió và đò ... phải sống xa Loan mới có thể hồi tưởng những phút giây hạnh phúc được nhìn Loan và được Loan nhìn lại ... Thoát ly khỏi Loan để được yêu Loan mãi mãi ... để khỏi rơi vào cảnh vợ chồng ngày ngày bị những tính toán vụn vặt của đồng tiền, mảnh cơm, manh áo bào mòn thể xác, bị những giờ giấc quen thuộc đi, về, cơm, nước, con cái ... giết chết kỷ niệm, giết chết tình yêu ... Tình yêu, cũng giống như nghệ thuật, là những bóng đom đóm chụm đầu vào nhau như một chùm ảo ảnh mà con người càng tìm cách sở hữu, lại càng thấy bất lực. Tình yêu cũng như nghệ thuật, không thể sở hữu được mà chỉ có thể cảm thức từ yên lặng, trong yên lặng, như Nhất Linh, để từ cõi yên lặng ấy, vớt ra những xúc động, những nhục cảm say sưa nhất của con người. Yên lặng nghe "một cơn gió lạnh lùa vào đượm mùi thơm hắc của hoa cau" (trang196), yên lặng ngắm nắng trong vườn cùng với Loan và Dũng "thỉnh thoảng một sợi tơ trời từ trên cao là là xuống, lấp lánh, hai người sợ tơ trời vương vào mình cùng giơ tay đón lấy rồi nhìn nhau mỉm cười khi thấy trong tay không có gì cả, hình như sợi tơ vừa tan đi cùng ánh sáng." (trang 195).
Những giây phút ấy là tình yêu, là hạnh phúc, là nghệ thuật mà trong cuộc đời chạy ruổi để bắt kịp xe bus, bắt kịp métro, chen chúc trong đám kẹt xe đô thị, trong chớp loạn của truyền hình, ciné với những chiến tranh hành tinh giả tưởng, trong cuộc đời bão táp kinh tế, tranh chấp những phát minh khoa học tân kỳ ..., con người rất ít thì giờ dành cho những giây phút "yên lặng nghe lòng mình sung sướng", những giây phút hạnh phúc Nhất Linh.
Chú thích:
1 Nhà xuất bản Ðời Nay, hải ngoại in lại, không đề năm.
© Copyright Thuy Khue 1996, 2002