Không gian liên mạng Lê Bá Ðảng
Mỗi khi có dịp trình bày quan niệm nghệ thuật của mình, họa sĩ Lê Bá Ðảng thường nhấn mạnh ba điểm sau đây:
- Nghệ thuật của một dân tộc chỉ có thể tồn tại được nếu nó bám rễ vào đời sống và mang cá tính độc đáo của dân tộc ấy;
- Lê Bá Ðảng đưa ra một phong cách tạo hình mới thoát khỏi truyền thống hội họa điêu khắc Tây phương, ông muốn trình bày một nghệ thuật tạo hình, không tượng, không tranh, dựa trên những nguyên liệu vật chất hoặc hư không do chính người nghệ sĩ tạo ra;
- Nghệ thuật không chỉ dành riêng cho một số ngườì may mắn có khả năng mua tranh, mua tượng, hoặc chỉ nằm khô trong viện bảo tàng, mà phải hòa hợp với thiên nhiên, đi vào đời sống, để tất cả mọi người dù ở tầng lớp nào, cũng có thể thưởng ngoạn.
Như để thực hiện quan điểm bình dân hóa và phổ biến hóa nghệ thuật, Lê Bá Ðảng luôn luôn tìm cách bội phân những tác phẩm của mình thành nhiều phiên bản, giá bán rẻ đi, nhiều người có thể mua được, nhưng chất sắc và giá trị vẫn là nguyên bản. Những năm 70, để sáng tạo Lebadangraphy, ông đã tìm chất giấy riêng in tranh, từ những bản khắc trên đá, khiến cho tranh in của ông không còn là một sản phẩm phiên bản (reproduction) tầm thường mà nó giữ trọn vẹn những chiều sâu, những nét gồ, nét trũng của bức tranh thật.
Rồi ở thời kỳ Tấn Tuồng Nhân Loại (La comédie humaine) những năm 80, một loại chất liệu giấy khác ra đời, tạo cho những vi nhân, vĩ nhân của Lê Bá Ðảng có một không gian nhân vị, tự do, có chất khinh khoát của lời, có cái dị hợm của cá tính và thể xác, miêu tả những trạng thái và tình thế của con người trong cái bể khôn lường của Tánh.
Ở Không Gian Lê Bá Ðảng giữa thập niên 80-90, ông không vẽ trên giấy nữa mà cắt dán và tạo ra một chất liệu mới mang chiều dầy của vật thể, có thể gói trọn khí quyển và tạo vật trong cùng một "không gian"; chính ở đây, ông đã bắt đầu đường lối tạo hình mới: không tượng, không tranh mà tổng hợp cả tượng lẫn tranh.
Trong khoảng năm, sáu năm gần đây, nghệ thuật của Lê Bá Ðảng càng ngày càng đi sâu vào đời sống hơn nữa. Năm 1997, ông thực hiện Ðộng Lê Bá Ðảng, một công trình kiến tạo nghệ thuật ở miền Baux de Provence, một thắng cảnh miền Trung Nam nước Pháp, với những chủ đề Âu Cơ, Âu Lạc, như muốn tái tạo một "nguồn gốc Việt, một lịch sử Việt" trong hang động bên trời Tây. Ðồng thời ông phác họa nhiều sơ đồ kiến tạo nghệ thuật trong thiên nhiên, để thực hiện trên đất nước Việt Nam với chủ đích đem tác phẩm nghệ thuật vào Trường Sơn, vào núi đồi Phù Ðổng... tạo ra những bảo tàng viện thiên nhiên vô hạn mà tất cả đều được mời tham dự hoặc thưởng lãm: từ cánh chim, ngọn cỏ đến con người. Ðể xây bảo tàng viện thiên nhiên, ông sáng tạo nghệ thuật Sắc Không (Le Vide et le Plein), tiếp nối Không Gian Lê Bá Ðảng. Cũng trong thời gian này, ông sáng tạo Tranh Hai Mặt (Double face), một loại tranh khắc mà hai mặt đều là tác phẩm nghệ thuật. Rồi ông lại trở về với sơn dầu, mầu nước qua loạt tranh mắt.
Sau thời kỳ Mắt, Lê Bá Ðảng bước vào thời kỳ Thiền, như không dứt, không ngừng... Hỏa diệm Lê Bá Ðảng đầy ắp phún thạch chồng chất lên nhau, sẵn sàng tung ra hết lớp này đến lớp khác ... ở tuổi 80.
Khoa học, với kỹ thuật liên mạng giúp Lê Bá Ðảng phổ biến những sáng tác mới nhất của mình trong chiều hướng rộng nhất: trên không gian liên mạng Lê Bá Ðảng, và đó là món quà mà khoa học và nghệ thuật kết hợp để đưa cái đẹp đến với con người ở khắp mọi nơi, không kể giàu nghèo và cũng là niềm tâm nguyện của người nghệ sĩ, Lê Bá Ðảng.
Ngựa
Ngựa và người trong tiếng Việt, vô tình hay hữu ý, có cách phát âm gần giống nhau. Những âm hao tương đương ấy, chiếu vào sáng tác của Lê Bá Ðảng, trở thành một mã quan nghệ thuật độc đáo.
Ðối với Lê Bá Ðảng, ngựa là một nhân vật. Ðây không phải là điều mới. Từ thời cổ Hy La, ngựa đã là người, đã có những con centaure ngựa-người (ngựa đầu người). Ngựa còn biểu dương cường lực, sức mạnh dẻo dai, bền bỉ, ngựa mang ấn tượng ra đi, tự do vùng vẫy, ngựa là biểu tượng của chinh nhân, chinh phục, của dục vọng, chiến tranh, tính dục... trong con người. Nhưng người luôn luôn coi ngựa như loài súc vật, tuy khôn ngoan, thông minh, nhưng vẫn là thú. Với Lê Bá Ðảng, ngựa thực thụ là người, thế giới ngựa của ông là thế giới tự do, quần tụ những vũ bão, mơn trớn, phong ba, dục tình và tha thiết, là thế giới của chinh phục. Ở ông, ngựa chinh phục người.
Thế giới ngựa Lê Bá Ðảng là thế giới bất kham, hỗn tạp giữa ảo và thực. Tất cả những biến chuyển tâm linh và hình thức của con người hiện hình trong chân dung ngựa. Với ngựa, nét bút của ông linh động, vùng vẫy, dường như cái mà họa sĩ muốn bộc lộ trong tranh là cái nhân tính nơi con ngựa. Ông đạt. Ngựa của ông có sức quyến rũ mê hoặc của những nhân vật ảo huyền, kỳ bí. Khi đã bắt được vùng nội tại thâm trầm và u uẩn chung giữa người và thú, người nghệ sĩ có thể giải mã được những khó khăn ngăn cách giữa vật và nhân. Ngựa hóa thân thành họa sĩ: Chị Mã trong một truyện ngắn của Lê Bá Ðảng. Sức sáng tạo của Chị Mã cũng ảo huyền, huyễn mộng và sinh động như trần thế con người. Nếu so sánh thế giới ngựa của Lê Bá Ðảng với thế giới kịch người của ông, người xem không khỏi ví thú tính nơi con người với nhân tính nơi con vật. Dường như chính ngọn bút của các Chị Mã đã vẽ nên những sinh vật li ti, hoạt náo, triền miên, trong vòng: ăn, ngủ, đụ, ị, đi, đứng, đánh, đấm, khóc cười, gian manh, đạo đức, tội ác và nhân ái... cuồng quay trong địa ngục trầm luân, hay thiên đường tục lụy được gọi là thế giới loài người. Sự lựa chọn hài hòa người-ngựa, dường như không phải vô tình mà vô hình định trước: Bằng âm thanh gần gụi ngựa-người, bằng sự uyển chuyển thân thể giống nhau, trong tác hợp nòi tình, bằng động tác thiên di, bằng lòng yêu tự do, bằng mãnh lực quật khởi... Ở Lê Bá Ðảng, có sự nhập thần giữa người và ngựa, có sự phân thân giữa người và ngựa, và người xem tranh không phân biệt được chính người vẽ ngựa hay ngựa vẽ người. Họa sĩ đã xóa nhòa biên giới giữa nhân và vật để tác thành một thế giới tạo vật huyền đồng trong nghĩa Lão Trang. Ông tạo thế giới ngựa bằng những dessin cực kỳ giàu có về nét, uyển chuyển và có ma lực, mã lực và hỏa lực biến những quang cảnh thông thường trở nên ngoạn mục và mộng tưởng.
Ngựa của Lê Bá Ðảng không chỉ là những sinh vật hình thức mà tự chúng thoát ra đời sống tâm linh trong ánh mắt, trong nụ cười, trong mọi tác động thể xác và thú tính: Ngựa buồn, ngựa vui, ngựa trầm ngâm, ngựa đắng cay, đau khổ, ngựa lồng, ngựa phóng, ngựa đá, ngựa ăn, ngựa ngủ, ngựa dằn dữ, phong ba, ngựa yêu, ngựa ghét, ngựa nằm, ngựa đứng, ngựa ngồi... Tất cả những tư thế, những ngậm ngùi của ngựa đều được khai triển, trong những chiều kích khác nhau, bằng những chất liệu khác nhau. Mỗi khi có một nồng độ nào đó dâng lên trong huyết quản của người nghệ sĩ, thì lại có... Ngựa, và có thể nói mỗi con ngựa là sự giao thoa giữa một cảm xúc bất kỳ, với một làn sóng không tên dấy lên từ trực giác sáng tạo, cái mà Francis Bacon gọi là accident, tôi xin gọi là tia chớp lóe lên từ một cõi không, biến không thành có, biến ngựa thành người.
Hạt Gạo Trường Sơn
Vật thể hóa một hiện tượng tâm linh, đem những yếu tố hữu hình, vật chất, của thực nghiệm ra để phân tích một hiện tượng thần bí, đó là công việc của khoa học. Sinh hóa một vật thể, thần hóa một hiện tượng vật chất, thuộc địa hạt nghệ sĩ.
Hạt gạo trong lòng một dân tộc bẩy mươi phần trăm làm nghề nông, trở thành hạt đời, hạt reo mầm sống và hạt hạ mầm chết. Có gạo có sinh, không gạo không sống. Người ta sống nhờ gạo, với gạo, nhưng không coi gạo như một ảo vật huyền bí tạo sinh khi hột gạo đầy, không nhìn gạo như một biến hình khai tử khi hột gạo rỗng. Tất cả những cái nhìn vừa tâm linh, vừa tâm vật ấy thể hiện trong Hạt Gạo Lê Bá Ðảng: Ðiêu khắc và hội họa hòa hợp để kiến tạo nên một sinh thể gạo, mà tâm sinh vật, vật sinh tâm. Hạt gạo bá đảng tức là hạt gạo của trăm làng, reo rắc truyền bá lời nói thẳng, hạt gạo có bệ phóng như cái loa. Hạt gạo trực ngôn mang bản chất của người nghệ sĩ có tên Bá Ðảng. Bá như trăm, bá như cái loa, bá cứng như gỗ trắc, bá mềm và uyển chuyển như dây cương ngựa bằng da; đảng như thôn làng, đảng như lời nói thẳng; tất cả những ý nghĩa tiềm ẩn trong hai chữ Bá và Ðảng, tên người nghệ sĩ.
Vật thể gạo nơi người nghệ sĩ này, đã được biến thành một sinh thể tâm linh và huyền thoại: gạo đầu lâu, gạo thạp thố, gạo ông Ðịa, gạo Rùa, gạo Âu Cơ trăm trứng, gạo âm ty, gạo vọng phu, gạo Thành Hoàng, gạo Thổ Công, gạo cá, gạo Bình Than, Diên Hồng, gạo Ngũ Lĩnh, gạo nước, gạo rồng rắn lên mây, gạo tiền sử... Lê Bá Ðảng thể hiện gạo như một sự tìm về nguyên thủy. Trên đường đi, gạo bước qua lịch sử, bước qua truyền thuyết, gạo Bá Ðảng là gạo sử thi của một dân tộc và qua dân tộc đó, là sử thi của con người.
Những yếu tố gạo ấy, sáng như những ánh tâm linh, đặc như thể chất, rỗng như hư vô, được họa sĩ vận vào phong cảnh Trường Sơn, như muốn nhân hóa thiên nhiên. Biến cõi nhiên giới thành nhân giới: Ông khắc tạc và reo rắc trên Trường Sơn những hạt gạo Bá Ðảng, tạo nên một Trường Sơn mà nội tâm và ngoại cảnh giao thoa. Trường Sơn mới nổi bật những biến cố lịch sử con người mà Trường Sơn đã mục kích, đã sống từ thuở hồng hoang đến bây giờ. Trường Sơn ấy không chỉ là Trường Sơn thiên nhiên thuần túy, vô hồn, mà đã trở thành một Trường Sơn nhân văn, trùng điệp núi rừng, nặng mang dấu tích con người. Một Trường Sơn có tâm, có ký ức và biểu lộ phần tâm, phần ức của mình cùng suối, đèo, mây, gió, thổ lộ tâm sự của mình với những khách du tìm đến Trường Sơn, không phải như một vật thể đất đá, mà tìm đến Trường Sơn như một linh vật bảo giữ lịch sử và huyền thoại của một dân tộc, để kể lại với vũ trụ và con người.
Mèo
Hội họa Trung Hoa bắt đầu từ Thư pháp (calligraphie). Thư gia nổi tiếng nhất Hoa Trung là Vương Hi Chi, sống khoảng thế kỷ thứ tư, thứ năm trước Tây lịch. Những mộc bản đầu tiên để in ở phương Ðông, đã khắc chữ của Vương Hi Chi. Một người tên là Pien Tsai giữ được cuộn giấy có chữ của Vương, Ðường Thái Tôn phải dùng mưu để ăn cắp, tương truyền người ấy mất ăn mất ngủ rồi chết.
Chết vì mất chữ. Không phải ngẫu nhiên mà người Trung Hoa coi thư pháp là nghệ thuật chính, nghệ thuật nguyên thủy, bởi chữ của họ dựng lên tự đời. Mỗi chữ là một chân dung hiện tượng mà nó muốn gọi tên: Chữ nhân vẽ người, chữ địa vẽ đất, ...
Lê Bá Ðảng không vẽ chữ, ông lấy vật làm chữ. Tại sao ông lại chọn Mèo? Vì hình như Mèo có mệnh hệ gắn bó với họa sĩ từ lâu: Mèo là con vật đầu tiên giúp Lê Bá Ðảng thành danh (những bức tranh đầu tiên ông vẽ và bán được là những bức tranh mèo). Ðối với Lê Bá Ðảng, Mèo không chỉ là nguồn gốc phát xuất một tài năng, một tên tuổi. Mèo còn là chữ ký của tác giả.
Ông dùng mèo như một ký hiệu thuần túy tự họa. Nét mèo của ông, ở đây là ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ hội họa đầy thư pháp và thi pháp Ðông phương, nhưng lại hiện ra như một thứ ngôn ngữ trừu tượng, siêu hình, rất Tây phương. Như dấu ấn hiện hữu của cái có, cái không, của cái hữu hình vô thể trong toàn bộ tác phẩm Lê Bá Ðảng. Mèo vừa là chim, vừa là rắn. Mèo là những dấu hỏi: Ðảng là ai? Là Tôi, hay là một tiền kiếp, hậu kiếp nào khác? Ðảng có hay không? Mèo-Ðảng là những dấu hỏi về cuộc đời, về những gì mà ta chưa biết, đã biết. Bởi người nghệ sĩ luôn luôn tự hỏi về mình, đến từ đâu, đi về đâu, như con chim trong nét mèo của ông, đã bay qua khắp nẻo, đo lường không gian, sải cánh thời gian để tìm tòi khám phá chiều sâu của vô tận. Bởi người nghệ sĩ luôn luôn trắc khảo cái đáy lòng người, hiểm sâu như rắn và rộng cao như trời đất.
Ở Lê Bá Ðảng, Mèo thể hiện cả chim lẫn rắn. Bay như chim. Bò như rắn. Vũ trụ Mèo do ông tạo ra là vũ trụ người, bám sát đất mà luôn luôn tìm cách vươn cao, ấp mộng bay bổng không gian, tìm kiếm trên thượng tầng không khí một bầu quyển mới. Hỏi có gì? Nơi đó? Mèo thể hiện tính chất mâu thuẫn trong con người. Mèo là chữ ký của nhân sinh. Ký hiệu của cái biết và cái không biết. Ký hiệu của những không tưởng và ảo tưởng, nhưng cũng là ký hiệu của sinh loại: "đầu đội trời - chân đạp đất", vừa thực tiễn, vừa lắt léo trong lòng. Sau cùng và trên hết, những nét Mèo trong Lê Bá Ðảng, biểu thể nghệ thuật tạo hình đơn sơ nhất, mộc mạc nhất, không phấn son, không màu sắc, như thể nghệ thuật khởi đi và cũng tìm đến một cõi nguyên khai tuy không mà có.
Nghệ thuật sắc không
"Sắc tức thị không, không tức thị sắc"
Muôn vàn sự vật, dù mang nhiều hình sắc nhưng chỉ do nhân duyên hòa hợp mà nên. Chúng không có thực thể, chúng rỗng. Vậy cho nên: sắc tức là không mà không tức là sắc.
Sắc hay là thể sắc (Le plein) gồm cả nội sắc lẫn ngoại sắc.
Nội sắc gồm những sắc căn hay ngũ căn: năm giác quan của con người: mắt, tay, tai, mũi, lưỡi. Ngoại sắc là những đối tượng mà ngũ căn nắm bắt được như màu sắc, hình tượng, âm thanh, mùi và vị.
Hai yếu tố sắc tướng (Le plein) và hư không (Le vide) vừa đối chất, vừa bổ sung cho nhau. Nghệ sĩ đã nắm bắt cả hai để đem vào tác phẩm.
Ðám mây kia? Có hay không? Hay chỉ là muôn vàn hơi nước tích tụ lại? Hơi nước kia? Có hay không? Hay chỉ là sự bốc hơi của nước ở một nhiệt độ nào đó? Nhiệt độ kia? Có hay không? ... tất cả những câu hỏi kia đều vô thường. Lê Bá Ðảng dựa trên vô thường để tạo vũ trụ sắc-không của mình qua vật chất và trên mạng lưới điện tử. Vật chất như đất, đá, sắt thép, giúp ông tạo hình; ánh sáng, điện ảnh và điện tử giúp ông biến hình, tác tạo một thứ không gian "ăn" vật chất: Vạn vật bị tan trong một không gian háu đói, mà đen tối là nền. Tóm lại Lê Bá Ðảng thể hiện sự vong thân của vật thể: Sắc biến thành không, không "ăn" sắc, trong một không gian mà ông gọi là Bí mật Lê Bá Ðảng.
Trước hết, hãy nói về sắc (le plein). Sắc ở đây được biểu hiện dưới hình thức không tượng mà cũng không tranh: Một vị sư ngồi thiền, nhưng không phải là tượng, vì tượng thì phải đầy, đằng này vị thiền sư rỗng. Sự "rỗng" vừa nói lên chất hư không Ðông phương theo nhà Phật, lại nói lên chất hư vô Tây phương trong con người, theo hiện sinh của Sartre, và mở cửa cho khách thưởng ngoạn vào thế giới tưởng tượng của chính mình: Thiền sư còn đó hay đã tịch rồi? Có phải thiền sư hay chỉ là ảo giác? Nghệ sĩ muốn loại hết những yếu tố "thừa" trong tạo vật, trong nhân sinh, để chỉ giữ lại hai cốt lõi: sắc-không.
Với những chất liệu như dây thép, dây vàng, dây gai... Lê Bá Ðảng đã tạo ra nhiều hình sắc khác nhau: Nhện giăng tranh, mắt nhện, ngựa vờn, ngựa gió, khỏa thân, ngồi thiền... dây vừa tạo hình thức, vừa làm rỗng nội dung, khiến cho tác phẩm như chứa đựng hư vô trong mình.
Vũ trụ sắc-không như một sự phủ định của tác giả về thế giới nhân sinh mà ông đã tạo ra, như một sự xóa thể, vong thân, nhưng cũng lại là một cao ngạo phi thường của con người, muốn vươn đến cái siêu việt, vô cùng, vô thân, vô thể.
Tranh hai mặt
Phần đông các nghệ sĩ tạo hình thường chỉ chú ý đến một mặt của tác phẩm, tức là mặt ngoài, mặt trình diễn -khía cạnh phô ra trước cái nhìn của người xem tranh, xem tượng-. Không hiểu sao Lê Bá Ðảng lại chú ý đến mặt sau tức là mặt trái của tác phẩm, phía mà mọi người không chú ý. Nói khác đi, họa sĩ, không ai vẽ mặt sau của bức toile, nhà điêu khắc chẳng ai khắc trong lòng bức tượng. Vậy mà Lê Bá Ðảng để ý đến mặt sau bức tranh, để ý đến trong lòng bức tượng : Ông tạo ra tranh hai mặt. Có phải là do ông đã thấy trong lòng trái đất một thế giới khác, trong lòng đại dương một vũ trụ khác như lòng người và đáy sâu tâm hồn khác với diện mạo bề ngoài. Cái đáy này có thể gọi là tiềm thức hoặc vô thức, nơi mà con người không biết rõ lắm, nhưng không thể phủ nhận. Vùng ấy hình như chứa đầy những hình ảnh khác thường, lành dữ lẫn lộn, sáng tối không rõ ràng, truyền thuyết và lịch sử pha trộn với nhau.
Ðể vẽ cả hai mặt ấy của người và vật Lê Bá Ðảng dùng chất cứng như kim loại làm móng, rồi ông bồi thêm một chất liệu giống như vôi vữa để tạo nền. Trên chiều dầy kim loại và chất liệu xây dựng này, nghệ sĩ tạc hai mặt tác phẩm : Mầu sắc ở đây là mầu cổ, mầu rêu, rêu đen, rêu xám, màu hoàng thổ, màu sa hùynh, màu hồng hoang, màu long não, màu da đồng, màu quá khứ... Những đường khắc tạc trên tranh là những nét mơ hồ, như thể họa sĩ muốn vẽ vùng tiềm thức chứa chất muôn vàn hình ảnh mà không cái nào rõ ràng, bởi tiềm thức là cái kho huyền bí của tâm giới nhưng nó cũng lại là một thực tế rõ ràng như rong rêu trong lòng biển, như khối huyết tương trong lòng đất được hỏa sơn phun ra.
Tranh hai mặt Lê Bá Ðảng thể hiện khía cạnh double face của sinh thể và vật thể : trái đất có lòng, đại dương có tim, con người có tâm.
Như Huệ Khả nói với Bồ Ðề Ðạt Ma: "Tâm con không yên". Ðạt Ma trả lời : "Ngươi đưa tâm của ngươi ra đi". Huệ Khả đáp : "Con tìm mãi tâm mà không thấy". Và Bồ Ðề Ðạt Ma bảo : "Ðó ! Ta đã yên tâm cho ngươi rồi đó". Huệ Khả giác ngộ. Lê Bá Ðảng dường như muốn vẽ cái sự yên tâm ấy, theo Bồ Ðề Ðạt Ma. Mọi giải thích sách vở đều vô ích. Vẽ cái sự Tâm truyền Tâm, không qua văn tự. Tâm ở đây vô hình, vô định. Như Tâm thiền tông. Khi không biết tâm mình ở đâu, ấy là đã giác ngộ.
Mỗi hình thái trong tranh hai mặt vừa là một miếng của vật chất, mà cũng là một mặt người hay một mảng tâm linh. Mỗi hình thái ấy dấy lên cái gì bất định, không có chữ nghĩa nào xác định được đó là cái gì. Tranh ư ? Không phải ! Tượng ư ? Không phải ! Trừu tượng ư ? Không phải ! Hữu hình ư ? Không phải ! Bởi nó biến dạng và di động không ngừng như cái tâm con người trong ngôn ngữ Thiền Tông. Tâm không cần giải thích, không cần bài bản sách vở để mô tả. Tác phẩm nghệ thuật cũng vậy. Không cần giảng. Nó truyền đạt trực tiếp : Tâm truyền Tâm. Lòng đến với lòng. Như lời Bồ Ðề Ðạt Ma.
Cõi Dục
Hồn tranh Lê Bá Ðảng gọi về cõi giao hoan như một cuộc gặp gỡ nguyên thủy.
Họa sĩ tìm ra một cõi dục, với những dục ảnh, dục tình trong toàn bộ đời sống thiên nhiên tác hợp với con người.
Ông đi từ bối cảnh toàn thể vũ trụ để rẽ về thân xác. Từ thân xác, mổ xẻ những tế bào, những bắp cơ, những mạch tuyến... để khám phá động tác dục tình. Ðối với Lê Bá Ðảng, động dục chỉ là một cớ để họa sĩ tạo ra những phức hợp thần bí của đường nét. Dục động ở đây là sự giao hoan phong thủy giữa đài hoa và nhụy hoa, giữa phấn và noãn, giữa thần linh và ác quỷ, giữa đường nét và màu sắc, giữa chữ và nghĩa, giữa gió và mưa... Vị trí giao hoan thay đổi không ngừng như những hoàn cảnh, những thế đứng, thế ngồi, của các đường cong, đường thẳng, trên thân thể và trong cuộc sống ... đồng thời cũng là cuộc lạc hoan của những ý niệm, của mình với chính mình, giữa con người và vật thể, con người và thú tính, con người với bóng mình, con người với những giấc mơ.
Lạc hoan ở đây là sự tìm kiếm mà thân xác là một đối tượng nằm trong trời đất. Thân xác là cái đẹp thuần túy mà người nghệ sĩ muốn thể hiện trong tranh, trong tượng, trong những bức tranh-tượng hữu hình vô thể.
Xem tranh Lê Bá Ðảng là tìm hồn và xác của cái Ðẹp. Khi bạn thấy một bóng, một dáng, một dạng, một mảng ... người chen lẫn trong nước, trong trời, trong núi, trong mưa, trong mây, trong cây, trong lá... ấy là bạn đã thấy được "hồn" tranh; bởi dường như họa sĩ đã đem chủ thể hồn mình giấu trong cỏ, cây, mây, nước, dưới những đường nét bí mật của một tha nhân khách thể ngoài mình. Và sự kết hợp tâm-thân giữa hai thực thể cái-tôi và cái-khác-tôi, chính là cuộc giao hoan thầm kín và thăng hoa nhất giữa tình yêu và nghệ thuật, tạo nên Cõi Dục Lê Bá Ðảng, như sự nhân hóa cảnh vật trong tâm hồn nghệ sĩ, ở mức độ sâu nhất: thân thể hóa vũ trụ trong cuộc giao hoan nguyên thủy.
Thân xác là con người. Tôi là thân xác tôi như Nietzsche xác nhận. Mục đích của nghệ sĩ là tìm hiểu mọi hiện tượng mà hiện tượng người là mục đích tối thượng. Hiện tượng người lại nằm trong thân xác. Bởi vậy nghệ sĩ đã đặt Thân Xác lên địa hạt Thần Linh. Một vị thần linh mà tư tưởng không ngừng khai phá, một đối tượng mà đồng tử tìm mọi khía cạnh để chiếu ánh nghệ thuật.
Hành động thâm sâu và thầm kín nhất của thân xác là giao hoan, một hành cử, hành ngữ tuyệt vời phát xuất từ tình yêu, nhưng cũng lại là một khu rừng cấm bởi bao nhiêu đạo đức, tôn giáo. Phá giới, người nghệ sĩ muốn đặt hoan giao lên đài vẽ, như một hiện tượng đích thực và chính yếu của thân xác, nghệ sĩ phá mọi hàng rào đạo đức xã hội để tìm đến hiện tượng cơ bản của con người trong trạng thái nguyên sơ, khi Adam và Eve nếm trái cấm lần đầu, và con mắt voyeur của Thượng Ðế chưa kịp truy lùng sục sạo để cản ngăn và hành tội.
Mắt
Hỡi đôi mắt! Hồ thủy tinh trong suốt
Soi trần gian, địa ngục, vạn đời ma.
Bích Khê
Bích Khê hỏi mắt: Người là ai? Người hỡi người là ai?
Lê Bá Ðảng tìm về đồng tử, ngôi thứ hai trong con người. Con ngươi, chúa tể của mắt (pupille, Christ de l'oeil) như lời thơ Apollinaire. Từ địa vị chúa tể ấy, con ngươi đã bao trùm lên sinh hoạt con người.
Mắt dưới bút họa Lê Bá Ðảng là một thực tế bát quái biến dịch, có khả năng nói lên tất cả mà không cần lời. Mắt nơi ông là hành trình tự do và khủng hoảng của con người, vừa tình, vừa tội, vừa đam mê, vừa phản trắc, vừa âm mưu, vừa khốn khổ; mắt xác định cái tôi, mắt là cực lạc mà cũng là âm phủ. Mắt luồn lọt trong khắp mọi không gian, mắt chui xuống các lớp địa tầng, lạc trong lục phủ ngũ tạng để xoi mói, điều tra, mắt vừa là công an, vừa là tử tội.
Mắt, trong Lê Bá Ðảng, khơi lên cái không khí Kafka u tối, tuyệt vọng, lừa đảo, đàn áp. Mắt Ðảng tượng trưng cho một thế kỷ khốn cùng mà con người khó thoát khỏi bị đàn áp và tự đàn áp. Mắt Ðảng nói lên cái không khí khủng hoảng -angoisse- trường thiên trong cá nhân thế kỷ, cá nhân bị đặt ống nghe trong phòng khách sạn, cá nhân bị ma ám, quỷ dò... tất cả những trạng huống đó phản ảnh trong ánh mắt hãi hùng, lòng đen chìm trong hố sâu huyền hoặc, đen hơn địa ngục, bàng hoàng hơn nhật thực, tăm tối hơn nguyệt thực.
Mắt loạn là một chủ đề khác trong Mắt Ðảng. Một sự loạn thần, nhìn gà hóa quốc, nhìn trăng hóa sao, nhìn trời thấy đất... Lê Bá Ðảng vẽ những loạn tưởng, những cuồng hoang bệnh não trong tâm hồn qua ánh mắt. Vẽ những phẫn nộ, những trạng huống hoang tưởng trong thị giới con người.
Mắt Ðảng có hai giới tuyến: Mắt và Não. Não được trình bày như những đường tơ song song, hình thức sóng, gợi lại hình ảnh Thượng Ðế trong câu tục ngữ Hòa Lan: "Thượng Ðế tiến thẳng với những đường cong". Tuyến não đồng dạng với tuyến mắt. Ðồng tử là trụ hỏa quang, từ đó các làn sóng não thùy xuất phát vừa để tung ra, vừa để phong tỏa các tin tức về trạng thái tâm linh con người.
Lê Bá Ðảng trong những bức màu nước thực hiện năm 96, đã làm nổi bật sự giao hòa của thùy não và đồng tử trong các trạng thái khác nhau. Mỗi bức tranh đều là bệ phóng vào những vùng tăm tối của não thùy, vào những âm u của trời đất, của lòng người; bởi ông không chỉ thể hiện "phần người", mà tranh ông, luôn luôn từ người, biến trở sang vũ trụ, hoặc ngược lại từ vũ trụ trở về con người. Mỗi bức tranh tiềm ẩn sự hỗn mang trong tư tưởng, sự loạn thần của cỏ cây mây nước, sự vong thân của con người cầm thú, mắt người, miệng quỷ, tâm phật...
Ở Mắt Ðảng 2000, sự vong thân của mắt như dữ dội hơn với những bức sơn dầu lớn. Lê Bá Ðảng thể hiện diêm cung trong đáy mắt. Một vòng xanh, đen, trầm, lặng, nguy hiểm như đại dương, vô thanh như niết bàn, nhưng cũng ghê gớm như một địa ngục tịch lặng. Các làn sóng não thùy ở đây cũng đã biến đi, tan đi; vùng sóng não, giờ đây, chỉ còn là một mặt bằng, thuần nhất, mặt bằng bích ngọc, lam ngọc, thủy ngọc... như thể tất cả tội ác rồi cũng tan tác, cũng cát bụi, như những kiếp người; trụ lại là những đáy mắt, ngục mắt, trục đồng tử không chết được, không tiêu tan được, đã đọng lại thành những tinh thể, đó là những linh hồn lang thang, không sống được ở cõi này, những cũng không siêu thoát trong cõi khác, bởi chúng đã chứng kiến, chúng đã nhúng tay vào sự hành hạ con người. Bởi chúng là chính con người sinh ra và chết đi, không lối thoát, vì con người vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm những tha hóa của chính mình.
Thiền họa
Trong Thiền Luận, có một chương Suzuki bàn đến Trụ xứ của Bồ Tát, và trong chương này, có chỗ Suzuki nhắc đến câu kinh trong Bát Nhã Bát Thiên Tụng: "Tâm của Như Lai không trụ bất kỳ đâu, không trụ trên các pháp hữu vi, không trụ trên các pháp vô vi và do đó không hề rời khỏi vũ trụ." Câu kinh này diễn đạt thuyết "Tánh không" trong đạo Phật.
Tôi là gì? Tôi ở đâu? Tôi từ đâu đến? Tôi đi về đâu? Tất cả những câu hỏi này có thể gồm lại thành một: Tự tánh của tôi ở đâu? Nghĩa là trụ xứ, chỗ trú của tôi ở đâu, do đâu mà tôi dấy lên hành động? Về câu hỏi này, các vị thiền sư có những lời đáp khác nhau.
Thượng Khê Liên khi được hỏi về phong cảnh Thượng Khê, sư đáp: "Con nước trước mắt chảy về đông." Thiền sư Minh ở Tương Ðàm đáp: "Núi liền Ðại Nhạc, nước tiếp Tiêu Tương." Thái Khâm ở Kim Lăng trả lời: "Không vẽ nổi". (Thiền Luận, Suzuki, quyển hạ). Tất cả những khẩu quyết trên đều nhắc tới trụ xứ của Bồ Tát.
Kinh Kim Cương đưa ra một khía cạnh khác của thuyết Tánh không: "Hãy để cho tâm của người khởi lên mà không cố định nó bất cứ ở đâu." Lời kinh hàm súc tàng ẩn một ý nghĩa thiết thực: dựng tâm mình dạy mà không cố định nó bất cứ ở đâu", hay "làm chủ trọn vẹn chính mình".
Hai ba chục bức tranh Phật khổng lồ mà Lê Bá Ðảng thực hiện trong một thời gian rất ngắn, như thể trong mỗi sát na giác ngộ, người nghệ sĩ thấy được một Bồ Tát dấy lên từ vô thức để đi vào cõi Tâm không, Tánh không. Nghệ sĩ thể hiện cái "Tâm không trụ" của chính mình, tạo ra một cõi thiền riêng Lê Bá Ðảng. Ở đây ông đã bỏ rơi hết cả: bỏ đường nét, bỏ màu sắc, chỉ giữ lại một màu xanh nguyên thủy của vũ trụ Tánh không.
Trong lối nói hiện sinh, người ta có thể bảo Lê Bá Ðảng vẽ cái hư vô trong con người. Nhưng vẽ gì thì vẽ, Lê Bá Ðảng cũng chỉ vẽ chính mình, vẽ cái trụ xứ của mình. Một trụ xứ không biết từ đâu đến và sẽ trở về đâu. Phần động, Lê Bá Ðảng đã thực hiện với ngựa, với dục. Và phần tĩnh, được ông tạo tác trong thiền họa.
Với thiền họa, trụ xứ của Lê Bá Ðảng biến đổi khôn lường. Ông vẽ cái tâm, cái tĩnh, trong một thể động không ngừng. Tâm của mỗi vị bồ tát được họa sĩ trình bày trong một vòng tròn, được xác định như trụ xứ của Bồ Tát: Tôi luẩn quẩn giữa vòng tròn mà đường kính là cả chiều dài của sợi dây buộc vào hai cực, một vòng tròn không giới hạn vì đường kính là vô cực, đó là chỗ mà Bồ Tát cư ngụ: vòng tròn không có tâm điểm cố định.
Mỗi khuôn mặt Bồ Tát mà Lê Bá Ðảng vung lên là một vòng tròn, vừa khép kín lại vừa mở rộng đến vô cùng, bởi nó dấy lên từ một cõi thiên thanh bất tận của trái đất, hành tinh xanh trong vũ trụ đạo.
Mỗi nét mặt là một cõi tâm, một cõi tâm vô tâm, như cái đại dương thăm thẳm của lòng người, thấu những khổ đau, bất hạnh bao la trong trời đất, hoặc dấy lên niềm hạnh phúc của một cực lạc xa xăm.
Với Thiền Họa, Lê Bá Ðảng còn muốn tạo một không gian vật chất tan biến trong tinh thần, và tinh thần hòa đạm trong máu xương của vật chất, và để trả lời câu hỏi "Tôi ở đâu", họa sĩ bảo: Không vẽ nổi, qua những bức Phật trụ.
Chú thích
Tranh Lê Bá Ðảng trên mạng lưới:
http://lebadang.free.fr
© Copyright Thuy Khue 2001